Tổng Giáo Phận Hà Nội

Thứ Bảy 19.04.2014

Các bài suy niệm Chúa Nhật XXIII thường niên - Năm B

E-mail Print

Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN - B

Lời Chúa: Is. 35,4-7a; Gc. 2,1-5; Mc 7,31-37

christ10


MỤC LỤC

1. Câm và điếc

2. Lắng nghe

3. Nói được rõ ràng

4. Hãy mở ra – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

5. Hãy mở ra - ĐGM. Nguyễn Khảm

6. Một ngày kia khi vương quốc đến

7. Đức tin là bởi nghe, sự thờ lạy là bởi nói

8. Chúng ta là những kẻ câm điếc được chữa lành

9. Ephata - Hãy mở ra

10. Lắng nghe – Gm. Arthur Tonne

11. Hãy mở ra - Noel Quesson

12. Câm điếc

13. Câm và điếc

14. Phép lạ

15. Câm điếc

16. Tặng vật

17. Tin Mừng

18. Cần chữa lành bệnh điếc và ngọng tâm linh - JKN

19. Câm điếc tâm linh – Lm. Mark Link

20. Ep-pha-ta – Lm. Đan Vinh

21. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux

22. Chú giải của Noel Quesson

23. Chú giải của Fiches Dominicales

 

1. Câm và điếc.

Tám thế kỷ về trước, tiên tri Isaia đã loan báo một thời đại mới, khi Đấng cứu thế đến, Ngài sẽ canh tân và đổi mới. Sẽ không còn đui mù, câm điếc, bệnh tật. Và phép lạ hôm nay chứng minh thời gian cứu độ đã đến, và Đức Kitô chính là Đấng giải phóng thiên hạ đợi trông, bởi vì Ngài đã thực hiện lời tiên tri Isaia: Cho kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, người câm nói được và người què quặt được nhảy như nai.

Thế nhưng Chúa Giêsu không phải chỉ chữa lành những tật bệnh phần xác, điều quan trọng là Ngài chữa lành những tật bệnh phần hồn. Ngày hôm nay, qua Giáo Hội Ngài vẫn tiếp tục mở mắt mở tai cho một nhân loại câm điếc đối với lời Chúa, đối với Tin Mừng Phúc Âm.

Chúa Giêsu đem người câm điếc ra một nơi và Ngài chữa lành cho anh ta. Với chúng ta, Ngài cũng chăm sóc đến mọi người như thế, Ngài lo lắng cho mọi người như người mẹ lo lắng cho con mình. Chúng ta hãy tin tưởng và phó thác cuộc đời chúng ta trong bàn tay quyền năng và đầy tình thương xót của Ngài. Đồng thời chúng ta hãy kêu cầu Ngài: Lạy Chúa, xin mở miệng con để con không nói lời vu khống, phạm thượng, nhưng để ca ngợi Thiên Chúa và xây dựng tình bác ái huynh đệ.

Ngày xưa, khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, vị linh mục đã diễn lại động tác của Chúa, khi ngài đặt tay trên tai và trên miệng chúng ta rồi bảo: Ephata, nghĩa là hãy mở ra, để chúng ta biết lắng nghe lời Chúa và biết tuyên xưng những kỳ công của Ngài. Khi lãnh nhận bí tích Thêm Sức, Chúa Thánh Thần tăng cười nghị lực để chúng ta có đủ can đảm làm chứng cho đức tin.

Thế nhưng chúng ta đã sử dụng miệng lưỡi chúng ta như thế nào? Một giáo dân đã phải đau khổ thốt lên: Có những người cho đến cuối đời đã chẳng mở miệng nói về Chúa Giêsu cho một ai, ngay cả cho những người muốn tìm hiểu về Ngài. Chúng ta đã thua những người quảng cáo hàng hoá trên vỉa hè thành phố và những em bé bán báo, cũng như những người cổ động cho một nhân vật chính trị hay một thiên đàng trần thế.

Chúng ta hãy có can đảm như Bazin, một tiểu thuyết gia, trong một bài diễn văn đọc giữa hàn lâm nước Pháp, đã long trọng tuyên xưng đức tin của mình như sau: Với triệu triệu sinh linh, tôi sung sướng và tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa.

Tuy nhiên trước khi nói với người khác về Chúa, thì trong âm thầm chúng ta phải biết lắng nghe tiếng Chúa, qua những giây phút tâm sự và cầu nguyện, vì chúng ta chỉ có thể cho cái chúng ta đã có, chúng ta chỉ có thể nói về những cái chúng ta đã biết và đã kinh nghiệm. Chính vì thế mà Đức Thánh Cha Phaolô VI đã tuyên bố: Nếu không có một đời sống cầu nguyện sâu xa, làm sao người công giáo, giữa muôn vàn tiếng nói ô hợp của thế giới, có thể lớn tiếng ca ngợi Thiên Chúa, làm cho mọi người phải xao xuyến và được cứu rỗi. Và hơn nữa, thế giới đang mong đợi nơi chúng ta một thứ ngôn ngữ được diễn tả bằng hành động, tức là một đời sống trong sạch và ngay thẳng, một đời sống đạo đức và thánh thiện, một đời sống bác ái và yêu thương.

Bởi vì đời sống gương mẫu của chúng ta cũng chính là một tiếng nói hùng hồn nhất để giới thiệu Đức Kitô cho những người chung quanh.

 

2. Lắng nghe.

Trong một cuộc hội thảo, anh bạn ngồi bên tôi, không hiểu vì ngủ gật hay vì chia trí lo ra những chuyện đâu đâu, nên khi được mời lên phát biểu, anh đã đưa ra một ý kiến và để trình bày ý kiến này, anh đã đi vòng vo tam quốc, từ chuyện trên trời đến chuyện dưới đất, từ chuyện bên tây đến chuyện bên tàu, trong khi đó mọi người thì cứ tủm tỉm cười thầm. Cuối cùng, người điều khiển phải tạm ngắt ý kiến của anh ta và nói: Tất cả những điều anh diễn tả, cũng như đề nghị, chúng tôi đã trao đổi và bác bỏ ngay từ lúc mới bắt đầu cuộc hội thảo này rồi. Lúc bấy giờ, mọi người mới dám cười ồ lên.

Lâu ngày có người bạn tới chơi vào ban tối, chúng tôi đã nằm tâm sự với nhau về những ngày tháng xa xưa. Tôi nói và anh bạn gợi lại. Cứ thế cho tới một lúc tôi cảm thấy hình như chỉ còn mình tôi nói, ngó sang bên cạnh thì anh bạn tôi đã ngủ thiếp từ lúc nào không biết.

Từ hai mẩu chuyện trên chúng ta nhận thấy hai anh bạn yêu quí của tôi đã không biết lắng nghe hay không chịu lắng nghe nữa, cho nên một anh thì tưởng rằng ý kiến của mình là ý kiến đầu tiên được đề nghị. Còn anh bạn kia thì lại để tôi nói chuyện một mình với đêm tối.

Trong cuộc sống, có biết bao nhiêu người cũng đã không biết lắng nghe như thế. Phải chăng không biết lắng nghe đã trở nên như một lầm lỗi, một cơn bệnh thông thường.

Qua đoạn Tin mừng sáng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu chữa lành cho một người không thể lắng nghe vì anh ta điếc. Cái điếc này không đáng trách. Điều đáng trách, đó là biết bao nhiêu người có đôi tai thính, nhưng họ lại không nghe thấy bởi vì họ không lắng nghe.

Kinh nghiệm cho thấy lắng nghe là một điều kiện rất quan trọng trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Thực vậy, đời sống gia đình sẽ hạnh phúc hơn nhiều nếu mọi người đều biết lắng nghe, để cố gắng hiểu được điều người khác muốn nói.

Sự cảm thông không phải là con đường một chiều. Nói và nghe đúng cách sẽ giúp chúng ta hiểu nhau hơn và sẽ bắc được nhịp cầu cảm thông giữa chúng ta với những người chung quanh.

Dĩ nhiên dưới mái ấm gia đình, con cái phải lắng nghe cha mẹ nhưng đồng thời cha mẹ cũng phải lắng nghe con cái. Hãy bình tĩnh lắng nghe con cái mình nghĩ gì, cảm gì, muốn gì để rồi từ đó có những hướng dẫn, vừa không mang tính cách độc đoán, nhưng lại vừa hợp tình lại và hợp lý.

Ở trường, học trò phải lắng nghe thày cô, bởi vì nếu không lắng nghe thì chẳng hiểu được chi về bài vở của mình. Nhưng đồng thời thày cô cũng phải lắng nghe học trò trả lời hay đặt câu hỏi, nhờ đó mà trắc nghiệm được sự hiểu biết của học trò mà đổi mới cách thức giảng dạy.

Và nhất là ở đây, trong nhà thờ này, lắng nghe lời Chúa là một việc hết sức quan trọng. Lời Chúa muốn nói gì với tôi và Ngài mong muốn nơi tôi điều chi. Điểm chính của bài giảng hôm nay là gì? Phải chăng là hai chữ lắng nghe. Chúng ta cần nói với Chúa qua những tâm tình cầu nguyện, nhưng đồng thời chúng ta cũng phải lắng nghe tiếng Chúa qua những giây phút thinh lặng. Chúng ta hãy thưa lên với Chúa như Samuel ngày xưa: Lạy Chúa xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe...

 

3. Nói được rõ ràng.

(Trích trong 'Manna')

Suy Niệm

Khi đến thăm những trẻ em khuyết tật, ta thấy mình dễ tiếp xúc, gần gũi các em mù, hơn các em bị câm điếc.

Thật khó làm cho các em câm điếc, hiểu được chúng ta, và chúng ta cũng không hiểu được điều các em diễn tả. Đôi bên cứ như ở hai thế giới, không gặp được nhau.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chữa một người vừa ngọng vừa điếc.

Người ngọng là người gặp khó khăn khi trình bày, khi phải diễn đạt bằng lời nói cho người khác hiểu. Ta có cảm tưởng lưỡi anh bị một sợi dây trói buộc. Đức Giêsu đã đụng đến lưỡi anh, và sợi dây đó được tháo cỡi. Giờ đây anh có thể nói được tự nhiên và rõ ràng.

Nói sao để người khác hiểu được mình, đó là ước mơ của nhiều người trong chúng ta. Nhưng ta lại thấy có cái gì đó trói buộc mình khiến mình ngần ngại, sợ hãi, né tránh...

Nhiều người đã trở nên ngọng hay câm vì đã trải qua những kinh nghiệm đau đớn: kinh nghiệm bị châm chọc, bị khinh miệt, bị khước từ... Bao kinh nghiệm làm con người mất tự tin và khép lại. Có những đe dọa ám ảnh làm con người câm nín.

Ép-pha-tha, xin hãy mở miệng con để con có thể hồn nhiên vén mở thế giới của mình, hầu gặp được sự cảm thông và nâng đỡ.

Nếu bệnh ngọng làm chẳng ai hiểu tôi, thì bệnh điếc làm tôi chẳng hiểu ai. Tôi như người đang xem một phim trên truyền hình mà máy đột nhiên mất tiếng. Tôi chỉ thấy hành động, nhưng không hiểu được ý nghĩa.

Chẳng ai muốn mình bị điếc hay lãng tai, nhưng trong thực tế, ta vẫn có thể mắc bệnh này, nghĩa là mất khả năng lắng nghe người khác. Chúng ta thường chỉ nghe điều mình muốn nghe, hay lắm khi nghe điều người khác nói nhưng lại hiểu dưới cái nhìn chủ quan của mình. Như thế vẫn là chưa hiểu được điều người kia muốn nói.

Nghe bằng tai, không đủ. Cần lắng nghe bằng cả trái tim. Chỉ trái tim yêu thương mới giúp ta hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu ý nghĩa đàng sau lớp vỏ ngôn từ.

Ép-pha-tha, xin giúp con ra khỏi cái tôi cứng cỏi, ra khỏi những thành kiến, những suy nghĩ cứng nhắc, để nghe được cái tôi của anh em.

Thế giới hôm nay thiếu cảm thông và đối thoại, vì có nhiều người bị câm điếc về mặt tinh thần. Bệnh này làm người ta thành những hòn đảo, chẳng có gì để cho, chẳng có gì để nhận, để rồi chết dần trong sự nghèo nàn của mình.

Xin cho con đừng câm điếc trước Thiên Chúa và anh em, đồng thời giúp người khác ra khỏi sự câm điếc của họ.

Gợi Ý Chia Sẻ

Khi gặp một người bạn khép kín, cô độc, bạn làm gì để có thể đến gần và làm quen với người bạn đó?

Lắng nghe Thiên Chúa, lắng nghe tha nhân, bạn thấy điều nào khó hơn? Bạn nghĩ gì về khả năng lắng nghe của bạn?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa, làm chân tay cho những người què cụt, làm đôi mắt cho ai phải đui mù, làm lỗ tai cho những người bị điếc, làm miệng lưỡi cho người không nói được, làm tiếng kêu cho người chịu bất công.

Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đồng lúa, để đem cơm cho người đói đang chờ, và đem nước cho người họng đang khô, đem thuốc thang cho người đang đau ốm, đem áo quần cho người đang trần trụi, đem mền đắp cho người rét đang run.

Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đường vắng, thắp đèn soi cho ai bước trong đêm, đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh, truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi, nâng phẩm giá cho kẻ đời chà đạp, đem tự do cho những kiếp đọa đày.

 

4. Hãy mở ra – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Khi ở nước ngoài, có dịp gặp những người Việt sinh sống xa quê hương xứ sở, tôi hỏi họ: "Sống ở nước ngoài, điều gì khiến ông bà buồn khổ nhất". Họ trả lời: "Khổ nhất là chúng con sống như những người điếc và ngọng. Không biết tiếng nên ngọng nghiụ, nói chẳng nên lời, thành ra không làm cho người ta hiểu được mình. Người ta nói gì mình cũng chẳng hiểu, thật y như người điếc".

Nghe và nói là hai cánh cửa. Nói là cánh cửa mở tâm hồn mình ra thông giao với thế giới bên ngoài. Có gì tích chứa trong lòng, phải nói ra thì người khác mới hiểu. Nghe là cánh cửa mở ra đón nhận thông tin từ thế giới bên ngoài. Phải nghe mới hiểu được người khác. Không nghe không nói cũng giống như đóng kín cánh cửa cảm thông. Mình không hiểu người mà người cũng không hiểu mình. Sống bên nhau mà không hiểu nhau thì thật đáng buồn và đáng sợ.

Nếu điếc và ngọng thể lý đã đáng buồn và đáng sợ, thì điếc và ngọng tâm lý còn đáng buồn và đáng sợ gấp bội.

Có nhiều thứ điếc.

Có thứ điếc vì khác biệt ngôn ngữ và văn hoá. Nghe mà không hiểu. Hoặc nghe tưởng là hiểu hoá ra lại hiểu sai. Trường hợp này còn tệ hại hơn là không nghe thấy gì.

Có thứ điếc vì định kiến. Đã có sẵn định kiến với ai, ta không muốn nghe người ấy nói nữa. Người ấy có nói hay đến đâu, ta cũng cho là dở. Người ấy có nói tốt đến đâu, ta cũng cho là xấu. Những ý kiến của người ấy không thể lọt vào tai ta. Nếu có vào thì chỉ vào những phần xấu.

Có thứ điếc vì bịt tai không muốn nghe. Đây là trường hợp của người tự làm cho mình trở thành điếc. Mất tin tưởng vào anh em. Tuyệt vọng vì cuộc sống. Tự đóng kín trong vỏ ốc của bản thân. Đoạn tuyệt với mọi người.

Sau cùng, có thứ điếc thiêng liêng không nghe được Lời Chúa. Không nghe được Lời Chúa vì thiếu học hỏi. Nhưng nhất là không nghe được Lời Chúa vì cứng lòng. Vì để nghe Lời Chúa, mở tai chưa đủ, cần phải mở lòng nữa. Bao lâu tâm hồn đóng kín, không nhậy cảm trước những lời mời gọi ăn năn sám hối, không tỉnh thức tiếp thu những lời hướng dẫn về đường lành, thì tai người ta sẽ chẳng nghe được Lời hằng sống. Bao lâu tâm hồn còn đuổi theo dục vọng, còn toan tính những điều gian dối, bấy lâu người ta vẫn còn điếc đặc trước những Lời của Thiên Chúa.

Tương tự như thế, có nhiều thứ ngọng.

Có thứ ngọng do khác biệt ngôn ngữ và văn hoá. Ta không hiểu người mà cũng chẳng thể làm cho người hiểu ta.

Có thứ ngọng do ích kỷ. Ta chỉ nói về những quan tâm, những nhu cầu, những ước vọng của ta, mà chẳng xét đến những quan tâm, những nhu cầu, những ước vọng của anh em. Nên lời ta nói chẳng lọt vào tai anh em. Lời ta nói trở nên ngọng nghịu, anh em nghe mà không hiểu.

Có thứ ngọng do sợ sệt. Vì sợ sệt, ta không dám nói lên sự thật. Những nỗi sợ mất quyền lợi, sợ mất danh dự, sợ mất lòng người khiến ta trở thành câm nín, ngọng nghịu.

Có thứ ngọng do lười biếng. Vì lười biếng, ta không nói được những lời tốt đẹp khích lệ anh em. Vì lười biếng, ta không nói được những lời an ủi người đang buồn sầu. Vì lười biếng, ta không nói được những lời chia vui với người anh em gặp may mắn. Nhất là vì lười biếng, ta không nói lên được những lời ca tụng Thiên chúa.

Những đam mê, những dục vọng, những toan tính, những ích kỷ, những lười biếng trở thành những sợi dây trói buộc lưỡi ta, làm ta trở thành câm nín, ngọng nghịu.

Có nhiều bức tường ngăn chặn làm tai ta điếc. Có nhiều sợi dây trói buộc làm cho lưỡi ta ngọng.

Hôm nay, Đức Giê-su cũng đến nói với ta: "Ephata". Hãy mở ra.

Hãy mở tai ra để lắng nghe lời anh em. Hãy mở tai ra để lắng nghe lời Chúa. Hãy phá đi bức tường định kiến. Hãy phá đi bức tường ích kỷ. Hãy phá đi bức tường tâm hồn cứng cỏi để mở rộng tâm hồn đón nhận anh em và đón nhận Lời Chúa.

Hãy mở miệng lưỡi ra để đi đến với anh em và đi đến với Chúa.. Hãy cắt đứt sợi dây ích kỷ để ta quan tâm tới nhu cầu của anh em. Hãy cắt đứt sợi dây sợ sệt để ta mạnh dạn nói những lời sự thật. Hãy cắt đứt sợi dây lười biếng để ta nói lên những lời tốt đẹp, những lời ca ngợi tình thương của Chúa.

Lạy Chúa, xin hãy chữa bệnh điếc và bệnh ngọng trong tâm hồn con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Hãy kể ra những thứ ngọng và nói lý do của những thứ ngọng đó.

2) Hãy kể ra những thứ điếc và nói lý do của những thứ điếc đó.

3) Khi gặp người khác bạn thích nói hay thích nghe. Hoặc bạn không muốn nói cũng chẳng muốn nghe?

4) Lắng nghe có dễ không? Bạn có để ý lắng nghe Chúa và nghe nhau không?

5) Nói những điều tốt đẹp rất có ích lợi. Bạn đã có kinh nghiệm gì về điều này chưa?

 

5. Hãy mở ra - ĐGM. Nguyễn Khảm.

"Người làm mọi sự tốt đẹp, Người làm cho kẻ điếc nghe được và Người câm nói được"

Có nhiều khi tôi tự hỏi: Nếu một ngày nào đó tự nhiên mình bị câm và điếc lúc ấy cuộc đời mình sẽ ra sao? Tôi lại nghĩ: Lúc ấy chắc sẽ buồn, sẽ thất vọng lắm.

Kinh Thánh Kitô Giáo của mình trình bày con người của mình là một sinh vật được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Chúa Giêsu không phải là một Thiên Chúa đơn độc, cô đơn. Nhưng mà là một Thiên Chúa Ba Ngôi, là một cộng đồng hiệp thông trong yêu thương. Chúng ta là hình ảnh Thiên Chúa. Mình phải làm thế nào để cuộc sống của mình sẽ vươn tới chỗ hiệp thông, hiệp thông với nhau, hiệp thông với cả vũ trụ. Đến lúc ấy cuộc sống chúng ta sẽ phong phú lắm.

Để tiến tới sự hiệp thông chúng ta phải dùng ngôn ngữ để chia sẻ với nhau. Nhờ lời nói chúng ta có thể diễn tả được suy tư, cảm xúc tâm tư trong lòng. Đồng thời chúng ta có thể nghe được tâm sự của người khác. Từ đó nó sẽ hình thành một cuộc đối thoại, kiến tạo một sự hiệp thông giữa hai người và làm cuộc sống của chúng ta phong phú hơn.

Như vậy, nếu chúng ta không thấy, không nghe, rõ ràng chúng ta sẽ bị cắt đứt khỏi thế giới bình thường của con người. Vì thế trong các trường khuyết tật bây giờ người ta cố gắng giúp cho các em tập nghe và tập nói, để các em có thể hội nhập vào thế giới bình thường của con người. Biết được nỗi đau của những người câm điếc ta sẽ thấy quý cái tai và cái miệng của mình. Lúc ấy chúng ta sẽ nhận được đấy chính là ân huệ và là một quà tặng lớn lao Thiên Chúa ban cho ta mà ta không biết tạ ơn.

Chúng ta có miệng và tai tốt lắm. Nhưng có khi nào chúng ta nghĩ mình bị câm điếc theo nghĩa toàn diện không? Chúa Giêsu đã có lần mắng các tông đồ: "Các anh có mắt mà như mù, có tai mà như điếc". Thực sự vậy, nếu chúng ta quay lại định nghĩa của Kitô Giáo về mục đích của con người là sự hiệp thông. Và ngôn ngữ là phương thế để dẫn chúng ta đến sự hiệp thông. Lúc ấy chúng ta sẽ khám phá ra rằng: Rất nhiều khi tai và miệng thay vì dẫn đến sự hiệp thông thì nó lại ngăn cản và có thể sẽ huỷ diệt sự hiệp thông. Chúng ta trở thành câm điếc theo nghĩa đó.

Một hôm, đọc sách báo tình cờ tôi có đọc được một câu chuyện kể về một người phụ nữ đã có chồng 5 con. Chị được đưa vào bệnh viện để giải phẩu mắt. Suốt ngày đêm chị than thân trách phận. Chị sợ hãi, lo âu đủ chuyện. Chị chả hề quan tâm đến ai, kể cả những bệnh nhân nằm chung phòng. Tuần sau có một phụ nữ khác nhập viện nằm gần chị. Người phụ nữ mới vào ngày nào cũng thăm hỏi an ủi khuyến khích nâng đỡ chị suốt mấy tuần lễ như vậy. Một hôm, sau khi chồng và các con đến thăm chị, người phụ nữ mới vào sau nói với chị "Này Chị ơi! Chị phải biết là chị may mắn và hạnh phúc nhiều lắm, vì có biết bao nhiêu người quan tâm và chăm sóc chị". Câu ấy làm cho chị suy nghĩ và phải nhận đúng như vậy. Biết bao nhiêu người quan tâm đến chị mà chị chả biết quan tâm đến ai, ngay cả những người trong gia đình. Chị nhận ra người bạn nằm cùng với mình chả có ai thăm nuôi. Vậy mà chị ta không hề than vãn một lời lại còn động viên an ủi mình. Chị cảm thấy hối hận định sáng hôm sau sẽ an ủi xin lỗi chị ấy. Nhưng đã muộn. Chị ấy đã được Chúa gọi. Vài hôm, sau khi tháo băng chị đọc được lá thư người bạn gởi cho mình. Nội dung bức thư:

"Bạn thân mến, cảm ơn bạn về những ngày rất đặc biệt này. Tôi cảm nhận niềm hạnh phúc trong tình bạn của chúng ta. Tôi biết rằng bạn cũng chăm sóc cho tôi dù bạn không nhìn thấy tôi. Đôi khi để lôi kéo sự chú ý của chúng ta Thiên Chúa đã đánh gục chúng ta, hay ít ra Chúa làm cho ta mù loà, với hơi thở cuối cùng này tôi cầu xin Chúa cho chị đựơc nhìn thấy trở lại. Nhưng không phải thấy như chị thường thấy. Nếu biết tập nhìn bằng con tim, cuộc đời của chị sẽ phong phú hơn."

Chúng ta có đôi tai rất thính, đôi mắt rất sáng, miệng rất đẹp. Vấn đề ở đây là chúng ta không nhìn bằng cặp mắt bình thường, nghe và nói bình thường. Nhưng phải nói và nghe bằng con tim.

Chúng ta câm điếc khi chúng ta không nghe được những nỗi niềm ray rứt của người khác. Câm điếc khi chúng ta dửng dưng trước những đau khổ của những người bệnh hoạn, tật nguyền, trẻ thơ bơ vơ.

Chúng ta câm điếc khi chúng ta không nghe Chúa Giêsu nói lời sự thật, nói lời yêu thương, nói lời hoà giải. Có khi trong một ngày chúng ta nói biết bao là lời hằn học, hận thù, độc ác, gây đau khổ, gây oán thù, gây chia rẽ. Muốn tránh đựơc những câm điếc này chúng ta phải cầu nguyện: "Lạy Chúa xin cho con được nói, xin cho con được nghe. Xin Chúa hãy phán một lời hãy mở ra".

Không phải chúng ta chỉ nghe nói một mình. Chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ và bước xa hơn nữa. Chúa Giêsu đã chữa lành cho người câm điếc và Ngài mời gọi chúng ta thi hành tác vụ chữa lành cho những người câm điếc. Chúng ta không thể chữa được như Chúa. Nhưng chúng ta có thể trở nên đôi tai cho người điếc, trở nên cái miệng cho người câm.

Ở bên Mỹ, muốn đoạt được giải thưởng nổi tiếng thì tác phẩm của mình phải làm tác động đến trái tim người đọc và có thể vượt qua mọi biên giới của các quốc gia. Có một nhà văn cũng là một nhà báo mơ ước như vậy. Nhưng một ngày kia, tình cờ ông ta đến một nhà dưỡng lão, gặp một cụ già ngồi ghế đá. Ông cụ kể về gia đình, con cái của cụ. Ông có nhiều con nhưng chúng đi xa hết, đứa con gái út ở tận bên Đức, ít khi liên lạc được bằng điện thoại. Tay ông bị liệt nên không viết thư được cho con, nghe vậy ông nhà báo liền lấy giấy viết ra viết dùm ông cụ một lá thư. Viết xong anh cầm tay cho ông cụ ký tên. Và hai hàng nước mắt của cụ lăn trên má. Ông cụ cảm thấy hạnh phúc vô cùng, anh nhà báo trở về nhà và hai hàng nứơc mắt cũng tuôn chảy. Anh cảm thấy ngày hôm ấy anh đã đoạt được giải thưởng rồi. Anh chỉ viết một lá thư thôi. Nhưng những dòng chữ ấy đã chạm đến trái tim con người, anh đã cho cụ mượn đôi tay, mượn cái miệng để diễn tả nỗi lòng của ông cụ đối với đứa con gái thân yêu và xa cách nghìn trùng.

Trong cuộc sống hàng ngày có biết bao nhiêu công việc, biết bao dịp để chúng ta có thể giúp đỡ người khác. Chúng ta phải biết làm tác vụ chữa lành câm điếc của Chúa Giêsu, chúng ta cho người không biết nói mượn miệng lưỡi của chúng ta, cho người khác nghe đựơc lời sự thật, lời an ủi, lời khuyến khích.

Hôm nay tôi chỉ mời anh chị em chiêm ngắm hình ảnh của người câm điếc để từ lòng chúng ta thốt lên một lời tạ ơn về quà tặng và ân huệ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Đồng thời chúng ta ý thức được chính mình cũng ở trong tình trạng câm điếc theo nghĩa toàn diện để xin Chúa chữa lành. Xin Thiên Chúa đưa chúng ta vào trong tác vụ chữa lành mà Chúa đã sống suốt cuộc đời của Ngài.

Tôi xin anh chị em hãy nhớ lại một cử chỉ rất quen thuộc mà mỗi lần tham dự thánh lễ chúng ta đều thực hiện. Đây là lúc nghe đọc Tin Mừng chúng ta đọc: "Lạy Chúa vinh danh Chúa" và ta làm dấu thánh giá trên trán, trên môi, trên ngực. Đấy chính là dấu chỉ bề ngoài để nói lên ý nghĩa bên trong. Hãy mở ra: ý muốn nói: Lạy Chúa xin hãy mở trí khôn con, xin mở miệng con, xin mở trái tim con, để con được hiểu, để con cảm nhận, để con có thể nói lời của Chúa. Một cử chỉ rất quen thuộc và vì quá quen nên chúng ta xem thường. Ước gì mỗi lần làm dấu thánh giá chúng ta ý thức được: Phải mở trí, mở lòng, mở miệng ra để chúng ta thoát khỏi cảnh câm điếc.

Lạy Chúa, xin hãy dùng con theo ý Chúa, làm chân tay cho những người què cụt, làm đôi mắt cho những ai phải đui mù, làm lỗ tai cho những người bị điếc, làm miệng lữơi cho những người không nói được, làm tiếng kêu cho những người bị bất công. Lạy Chúa xin cứ gởi con ra đồng lúa để đem cơm cho những người đói đang chờ, đem nước cho những người bị khát, đem thuốc thang cho những người đau ốm, đem áo quần cho những người trần trụi, đem mềm đắp cho người rét đang run. Lạy Chúa, xin cứ gửi con ra đường thắp đèn soi cho ai bước trong đêm, đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh. Truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi, nâng đỡ dậy cho những kẻ bị chà đạp, đem tự do cho những kiếp đoạ đày. Amen.

 

6. Một ngày kia khi vương quốc đến.

(Suy niệm của Yvon Daigneault)

Mở đầu.

Một biến cố có vẻ như ở bên lề sứ vụ của Chúa Giêsu –việc chữa lành một người câm điếc- làm sao lại có thể gặp gỡ chúng ta và đưa chúng ta đến một suy tư thiết yếu về niềm hy vọng và sự tham gia của chúng ta vào việc làm cho nước Chúa trị đến? Có nhiều lý do. Chúa không làm gì cách nhẹ dạ cả, như thể đối với Ngài có những điều quan trọng và những điều khác không quan trọng. Hơn nữa, mỗi cử chỉ, cũng như mỗi lời nói của Ngài đều diễn tả một cách mới mẻ và luôn luôn thúc bách cùng một sứ điệp đó: Nước Thiên Chúa đã đến, anh em hãy hoán cải và đón nhận nó!

Lời hứa.

Bài đọc một diễn tả lời Thiên Chúa hứa với dân Ngài: Ngày kia sẽ có một thế giới mới, một thế giới khác trong đó người ta sẽ không còn thấy bất cứ nỗi lầm than hoặc sự điên rồ nào của thế giới hiện tại nữa: Sẽ không còn tật nguyền nữa nhưng sẽ đầy sự sống, không còn đói khát, âu lo, chiến tranh nữa, nhưng là hòa bình. Đó là một thế giới tuyệt vời mà chính Thiên Chúa sẽ đến khai mạc.

Những kẻ lắng nghe những tiếng kêu hăng say này của các ngôn sứ phần lớn là những người nghèo nhất và những kẻ thiếu hy vọng nhất trong một xứ sở đã trở thành mồi cho sự xung đột giữa các cường quốc. Họ không có quyền hành gì trên những bức xúc liên lỉ của cuộc sống: Tật nguyền, bệnh tật, sự hiện diện gây ám ảnh của thần chết, đói kém, giặc giã và thiếu tự do.

Có phải đã đến lúc không?

Những người nghèo ấy đã nghe những lời hứa này, đã chờ đợi chúng được thực hiện, biết các dấu chỉ loan báo điều ấy sắp xảy ra. Chắc hẳn họ nhắc lại những dấu chỉ đó trong lòng và chờ đợi chúng. Lời cầu của họ có thể là gì khác hơn là một lời kêu xin lâu dài và kiên nhẫn không?

Vậy nên, khi họ biết được rằng một vị ngôn sứ thực hiện những dấu chỉ đầu tiên trong các dấu chỉ được hứa, rằng những người nghèo, những người đau ốm và tật nguyền, những nạn nhân của nỗi lầm than của con người tìm thấy được nơi Người sự an ủi đã chờ mong từ rất lâu, thì những đám đông lầm than khốn khổ nhưng tràn trề hy vọng tuốn đến với Chúa Giêsu.

Một vương quốc phải bắt đầu.

Quả thật đây là khởi điểm. Nhưng cũng còn là điều gì khác lớn hơn và hấp dẫn hơn nữa.

Tin rằng triều đại Thiên Chúa gồm những phép lạ, một phép mầu biến đổi cuộc sống mà chúng ta không cần làm gì cả ngoài việc ngồi dưới bóng mát và nhìn xem nó từ trời xuống, tức là có một ý niệm rất sai lầm về Chúa, một ý niệm nghèo nàn về con người và ơn gọi của họ, một ý niệm nghèo nàn về Nước Trời.

Như bài Tin Mừng nhắc nhở, Chúa Giêsu đã rất cẩn thận làm cho người ta hiểu ý nghĩa các phép lạ Ngài thực hiện: Đây là những cử chỉ giới thiệu một con đường phải đi và mời gọi người ta đi vào đó như Ngài đang đi.

Nước Chúa phải bắt đầu bằng việc an ủi những kẻ lầm than, chia sẻ với những ai khốn cùng khi làm cho người điếc nghe được, người câm nói được, người què đi được, người mù được sáng mắt. Vấn đề không phải là tìm cách làm cho mình có những quyền phép lạ lùng nhưng, theo lời căn dặn của Chúa Giêsu mà trong mỗi Thánh lễ đều được nhắc lại cho chúng ta, là phục vụ lẫn nhau, theo gương Ngài.

Nước Chúa là một hồng ân. Đây cũng là công việc biến đổi thế giới: thay thế bất công bằng sự công chính, đau khổ bằng sự an ủi, lo âu bằng hy vọng, tính ích kỷ bằng tình thương. Sau khi đã hoàn tất những công việc đó mà chính Thiên Chúa cũng tham gia vào, thì thế giới mới đã được hứa sẽ xuất hiện.

Kết luận.

Niềm hy vọng, vốn là sức mạnh của sự xác tín, phải sống động đủ nơi chúng ta để thúc đẩy chúng ta thi hành những công việc Chúa đề nghị cho chúng ta để thế giới mới mà Thiên Chúa hứa có thể trở thành hiện thực.

 

7. Đức tin là bởi nghe, sự thờ lạy là bởi nói.

(Trích trong 'Mở Ra Những Kho Tàng" - Charles E. Miller).

Giác quan của chúng ta thì tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Thật khó mà quyết định giác quan nào là thế giá hơn, ánh nhìn của chúng ta hay là đôi tai, nhưng người đàn ông trong Phúc Âm đã không do dự. Ông ta bị điếc và ông biết chính xác điều gì là quan trọng nhất đối với ông ta.

Điếc làm cho anh ta không nghe được; anh ta cũng không thể nghe được những lời mà mình phát âm. Anh ta không thể hỏi Chúa Giêsu về những đặc ân mà mình cần. Khổ thay, một số người liên quan đã mang anh ta đến với Chúa Giêsu và giải thích về hiện trạng của anh. Chúa Giêsu đã chữa lành cho anh, và cho anh một khả năng để lắng nghe và Người đã làm cho người đàn ông đã có thể nói một cách rõ ràng. Chúng ta không ngạc nhiên khi Chúa Giêsu đã động lòng thương xót. Điều làm cho chúng ta ngạc nhiên đó là tất cả chúng ta một lúc nào đó trong cuộc sống đã bị tình trạng giống như một người điếc, không bị cách thể lý nhưng là tinh thần, cách thiêng liêng. Trước kh chúng ta chịu phép rửa, chúng ta là những người điếc cách thiêng liêng. Chúng ta không có đặc ân đức tin. Kết quả là chúng ta không nghe được lời Chúa nói với chúng ta, và chúng ta cũng sẽ không nói với Thiên Chúa được.

Đức tin đến với chúng ta bằng việc nghe thấy, không phải xuyên qua bộ phận tai nghe của chúng ta nhưng là qua đặc ân đức tin mà chúng ta lãnh nhận nơi phép rửa. Đặc biệt là trong khi cử hành phụng vụ Thánh Lễ, chúng ta có cơ hội lắng nghe bằng đức tin. Chúng ta sẽ đặt chỗ ưu tiên để suy nghĩ về việc lắng nghe Lời Chúa như là một nguồn mạch đức tin của chúng ta, còn có những cơ hội khác trong Thánh Lễ. Kinh Tin kính sau bài giảng đã diễn tả đức tin của chúng ta, như chúng ta hát những ca vịnh, hoặc khi chúng ta đọc những lời linh đặc biệt là kinh nguyện Thánh Thể. Một câu ngạn ngữ xưa nói rằng cách mà chúng ta đọc kinh là diễn tả những gì chúng ta tin (Lexorandi, lexcredendi).

Tuy nhiên đức tin thì bất toàn cho đến khi chúng ta nói với Thiên Chúa về cung cách mà chúng ta sẽ cử hành, hay khi chúng ta đáp trả trong việc thờ phượng. Lời kinh trong phụng vụ sẽ phục vụ cho một mục đích kép đôi: Nó vừa dạy chúng ta đức tin, vừa trao ban cho chúng ta những từ ngữ thích hợp để diễn tả sự thờ phượng của chúng ta. Những điều này được ban xuống là để chúng ta thờ lạy Thiên Chúa bằng việc nói với Ngài những gì mà Ngài đã mạc khải cho chúng ta. Nói một cách khác, chúng ta dâng lời tạ ơn và ngợi khen Thiên Chúa bằng việc nói với Ngài những gì mà Ngài đã làm và còn đang tiếp tục làm. Trong thời kỳ Phúc Âm, dân chúng đã tôn kính Chúa Giêsu bằng việc kể lại cách đơn giản những gì Ngài đã làm. Họ nói: "Ngài đã làm cho người điếc nghe được, người câm nói được".

Thí dụ trong kinh nguyện Thánh Thể thứ ba, chúng ta đọc: "Lạy Cha, Cha là sự thánh thiện và mọi tạo vật của Cha đều phải dâng lời ngợi khen Cha. Tất cả đời sống, tất cả sự thánh thiện đều phát xuất từ Cha". Thiên Chúa đã mạc khải rằng Ngài là nguồn mạch của mọi sự sống, của mọi sự thánh thiện, chúng ta ngợi khen Ngài bằng việc tuyên xưng Ngài là chân lý thật. Các Thánh Vịnh cũng là hoa quả giúp chúng ta cầu nguyện bằng cách mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta. Trong Thánh Vịnh đối đáp ngày hôm nay, Thánh Vịnh 146: "Thiên Chúa của Giacóp đã giữ lời hứa đến muôn đời, bảo đảm sự công chính cho người bị áp bức, cấp thực phẩm cho người đói, Chúa giải thoát kẻ ngục tù". Những lời này vừa là lời mạc khải vừa là lời cầu nguyện.

Thiên Chúa không cần chúng ta nhắc nhở Ngài về sự lớn lao mà Ngài có và sự kỳ diệu nơi các việc Ngài đã làm. Ngay trong mối quan hệ của con người, chúng ta ngợi khen người khác bằng việc nói với họ về những gì họ đã làm. Đối với người bạn mà anh ta đã mời bạn đến nhà dùng cơm thì bạn phải nói: "Món mì nóng tuyệt vời mà trước đây tôi chưa hề nếm qua bao giờ". Thiên Chúa cũng làm cách tốt nhất trong mọi cách cho chúng ta. Đó là những gì chúng ta đã học được khi chúng ta lắng nghe tất cả mọi hình thức của sự mạc khải. Chúng ta là những người khôn ngoan, khi sự thờ lạy mà chúng ta dâng cho Thiên Chúa là theo những gì mà Ngài đã nói về Ngài cho chúng ta, kh chúng ta nói với Người trong cầu nguyện theo cách mà chúng ta có thể.

 

8. Chúng ta là những kẻ câm điếc được chữa lành.

(Trích trong 'Lương Thực Ngày Chúa Nhật' – Achille Degeest).

Từ xứ Galilêa, Chúa Giêsu lên miền Bắc, vòng qua xứ Phênêkia, rồi lại xuống phía nam, về hướng hồ Tibêria (tức biển Galilêa). Khu vực Chúa đi qua mang tên là Đêcapôli. Ở đây sinh sống khá nhiều người Do thái, lẫn trong đám dân phần lớn là người ngoại. Danh tiếng Chúa làm phép lạ lan đến cả đây, cho nên Chúa di chuyển đến đâu là có người chạy đến xin Người chữa những kẻ bệnh tật. Người ta đem đến trước mặt Chúa một kẻ bẩm sinh câm điếc. Chúa chữa lành kẻ ấy. Tuy nhiên ở đây ta chứng kiến một sự biểu dương đặc biệt sự thể Chúa can thiệp vào sinh hoạt con người. Thay vì chữa khỏi kẻ tật nguyền bằng một hành vi ý chí thuần tuý và đơn giản, Chúa chạm tay vào người y. chúa tra ngón tay vào trong lỗ tai kẻ điếc như thể mở tai y. chúa nhổ nước miếng vào tay rồi chạm vào lưỡi kẻ khốn khổ. Từ phép lạ này ta rút ra hai chủ đề suy niệm:

1) Chúa muốn biểu lộ công hiệu của sự tiếp xúc giữa nhân tính Chúa và nhân tính chúng ta.

Người muốn cho thấy rằng mầu nhiệm nhập thể không những là Con Thiên Chúa đến giữa loài người, mà còn là một sự hiệp thông thân mật giữa Người-Thiên Chúa với người phàm. Người ta có thể lầm tưởng rằng có lẽ Đức Kitô mặc lấy dáng vẻ con người, đi qua thế gian giữa nhân loại phàm trần mà vẫn đứng ngoài nhân loại. Cũng đúng là Đức Kitô có thể truyền thông cho chúng ta tất cả mọi hồng ân cứu rỗi, chỉ nhờ vào ý chí Người, từ ngoài xa truyền ơn đến cho chúng ta. Chúa không muốn thế. Chúa đem nhân tính hiển-vinh của Người tiếp xúc với chúng ta, để hiệp thông với chúng ta. Ngày nay thánh lễ tạ ơn là sự làm chứng cao độ nhất cho ý muốn Người. Thánh lễ chính là nhân tính thánh thiện của Đức Giêsu đến trong chúng ta, và đem chúng ta vào trong nhân tính Chúa để trở nên nơi chốn chúng ta hiệp thông với Thiên Chúa.

2) Về phương diện thiêng liêng, chúng ta là những kẻ câm điếc bẩm sinh được chữa khỏi do phép thanh tẩy.

Đức Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể tiếp xúc với loài người, cho chúng ta nghe được Lời của Thiên Chúa và cùng một lúc nói được với Thiên Chúa và với anh em chúng ta. Chịu phép Rửa tội nhờ bí tích thanh tẩy Chúa lập ra, chúng ta được Chúa mở tai mở Lưỡi chúng ta, cho chúng ta khả năng nghe Lời Người và nói theo Thần trí Người. Khả năng nghe và nói đó là gì? Trước hết là đức tin. Nhờ ơn huệ của đức tin, một Lời của Chúa đến với chúng ta, chúng ta ý thức được Lời đó-cũng như một lời nói thường lọt qua tai vào tới não, nhờ não chúng ta ý thức được lời nói ấy. Điều ta nghe thấy nhờ Đức Kitô, cho ta hiểu rằng Thiên Chúa là 'Cha' và trong Đức Kitô, Thiên Chúa kêu gọi ta đến với Người. Tiếp đến, khả năng nói, được ban cho ta là sự cầu nguyện. Vì tiếp nhận ơn nói được, ta thưa với Thiên Chúa: Lạy Cha. Lời nói được Thiên Chúa linh ứng, nó biểu lộ tâm khảm sâu kín nhất của bản thể ta, chính là tiếng: 'Cha' mà chúng ta thưa với Thiên Chúa. Sự đông người họp nhau lại cầu xin Thiên Chúa như thể cầu xin Cha, đưa đến hệ quả: lời chúng ta nói với nhau phải là lời nói của anh em trao đổi với nhau. Mọi người đều có Thiên Chúa là Cha chung, cho nên tất cả là anh em, ngôn ngữ chúng ta dùng để nói với mọi người-tức là cách biểu lộ những tình cảm sâu sắc nhất-phải cho thấy giữa chúng ta và mọi người khác có mối tình huynh đệ. Chúa Giêsu trong chúng ta là Đấng ban ơn cho chúng ta có được phong cách cư xử như vậy.

 

9. Ephata - Hãy mở ra.

(Trích trong 'Niềm Vui Chia Sẻ')

Có lẽ cái tên của Helen Keller, một cô gái câm điếc người Mỹ, đã trở thành bậc khoa bảng, không còn xa lạ với chúng ta nữa. Vừa được 9 tháng, sau một cơn đau màng óc, cô gái bất hạnh này trở thành mù loà và câm điếc. Thế giới của âm thanh và màu sắc đã khép hẳn cánh cửa lại với cô.

Làm thế nào để truyền thụ kiến thức cho một người đã câm điếc lại còn mù loà? Cha mẹ của cô bé dường như muốn bó tay. Nhưng có một cô giáo tên là Anna Sullivan đã không muốn bỏ cuộc. Hy vọng duy nhất mà cô giáo này còn đó là có thể truyền thông và liên hệ với cô gái mù loà và câm điếc này qua việc tiếp xúc với bàn tay của cô. Chỉ có thể tiếp xúc với thế giới bằng đôi tay, thế mà cô Helen keller đã có thể học xong đại học, tốt nghiệp tiến sĩ và trở thành văn sĩ.

Thưa anh chị em,

Với kỹ thuật khoa học hiện đại, ngày nay người ta dường như có thể mở mắt, mở tai, mở miệng cho người mù, người câm, người điếc. Ngày xưa Chúa Giêsu đã làm phép lạ cứu chứa những người bất hạnh này. Phép lạ Chúa Giêsu đã làm để chứa người câm và điếc được Thánh Marcô ghi lại xem ra thật là đơn giản dễ dàng: Ngài kéo riêng người câm điếc ra khỏi đám đông, xỏ ngón tay vào lỗ tai anh, bôi nước miếng vào lưỡi anh, ngước mắt lên trời lâm râm cầu khẩn rồi lớn tiếng truyền lệnh: "Ephata!" nghĩa là "Hãy mở ra!" Tức thì lỗ tai điếc của anh mở ra, nghe được rõ ràng, lưỡi bị cột cứng của anh uốn được và nói được sành sõi. Cuối cùng là sự kinh ngạc thán phục của đám đông. Họ nói: "Ngài làm được mọi sự tốt đẹp. Ngài làm cho người điếc được nghe, người câm được nói".

Lời thán phục của dân chúng chính là lời Ngôn Sứ Isaia đã loan báo cho dân Israel về Đấng Cứu Thế. Ông nói: "Đấng Thiên Sai sắp đến cứu thoát anh em. Lúc đó mắt người mù sẽ mở ra, tai người điếc sẽ nghe được. Lúc đó, chân người què sẽ nhảy như nai và lưỡi người câm sẽ nói sõi sàng" (Is 35,3-7). Như thế chứng tỏ là dân chúng đã nhận ra Đấng Thiên Sai Cứu Thế đã đến rồi. Ngài chính là Đức Giêsu đang thực hiện lời Ngôn Sứ Isaia trước mắt họ.

Nhưng giữa đám đông dân chúng chứng kiến phép lạ của những người có tai nghe được, có miệng lưỡi nói được, những lại câm, lại điếc. Họ giả điếc, giả câm trước Lời Chúa. Họ cố chấp không đón nhận sự thật. Đó là những người Biệt Phái Pharisêu: "Họ có mặt mà không thấy, có tai mà không nghe!" Quả thật, họ đang điếc trước công lý, mù trước phép lạ đang diễn ra. Họ chẳng những không chịu hiểu Lời Chúa mà còn loan truyền toàn những điều lệch lạc, sai trái. Họ thay thế Lời Chúa bằng các tập tục của cha ông họ. Họ cầm phải được chữa cho khỏi mù tội, khỏi câm điếc, mới có thể hiểu đúng và công bố Tim Mừng cho người khác. Họ phải mở tai, mở mắt để đón nhận Lời Chúa, để tin vào Ngài, thì mới được cứu độ.

Anh chị em thân mến,

Trong số những người câm điếc đó, ngày nay có thể có cả chúng ta nữa. Phải chăng chúng ta cũng nằm trong hạng người có tai thích nhưng không nghe; không nghe vì không biết lắng nghe. Có miệng lưỡi nói được sõi sàng, nhưng không mở lời ca tụng Chúa, không nói lên tiếng nói yêu thương anh em? Phải chăng chính chúng ta cũng là những người câm điếc cần được Chúa Giêsu cứu chữa? Ca dao tục ngữ nước ta có nhiều câu nói gợi hình để tránh cứ những người có tai mà không biết lắng nghe. Chẳng hạn, nghe mà không biết nghe, mà hiểu, tai nghe mà lòng không suy nghĩ, thì người ta lại bảo: "Nghe tai này lọt qua tai khác" hoặc "như nước đổ lá khoai môn"... Chính vì thế mà khả năng nghe là một tình trạng tinh thần tốt cần để đón nhận ơn cứu độ. Trong Kinh Thánh, biết bao lần Chúa nói rõ điều đó: Mỗi lần ban bố lề luật, Thiên Chúa kêu gọi: "Hỡi Israel, hãy nghe đây!" Hôm nay các ngươi hãy lắng nghe tiếng Chúa phán và đừng cứng lòng". "Ai có tai để nghe thì hãy nghe". Chính Chúa Cha cũng ra lệnh cho chúng ta hãy nghe lời Con Của Ngài: "Này là Con Ta rất yêu dấu, các con hãy nghe lời Ngài". Vì thế, khi chữa lành người câm điếc, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rằng Ngài đến không chỉ để nói mà còn để chữa lành khả năng nghe của chúng ta nữa, nếu không, thì có nguy cơ là Ngài nói mà chẳng được ai lắng nghe cả.

Nghe và nói là hai phương tiện truyền thông luôn đi đôi với nhau. Con người sống trong xa hội là phải biết tiếp nhận chân lý qua việc nghe và nói, trao đổi, đối thoại, trao đổi, mà chỉ biết sống trong ao tù suy tư của mình, nên khi phát biểu hay hành động, chỉ có thể là những tư tưởng chủ quan, cố chấp, những hành động sai trái, lỗi thời. Ta thử nghĩ xem: Trong gia đình mà vợ chồng không biết lắng nghe nhau hoặc mạnh ai nấy phát ngôn, hoặc ông nói gà bà nói vịt, không ai chịu nghe ai nữa, thì làm sao gia đình có được hạnh phúc? Biết lắng nghe nhau và đối thoại cởi mở chân thành sẽ giúp vợ chồng thông cảm chia sẻ, như thế sẽ tránh được biết bao bữa cơm không lành canh không ngọt! Tình cha mẹ và con cái cũng sẽ đậm đà mật thiết khi con cái biết lắng nghe cha mẹ và cha mẹ cũng biết lắng nghe con cái. Ở trường học cũng thế, giữa học sinh và thầy cô giáo, giữa các bạn trẻ, cũng phải biết lắng nghe nhau. Và nhất là trong nhà thờ, người Kitô hữu phải biết lắng nghe Lời Chúa để hiểu ý Chúa muốn nói gì với chúng ta và mở miệng lưỡi ra để ca khen chúc tụng Ngài. Chúng ta không chỉ biết lắng nghe trong nhà thờ, trong gia đình, ở trường học mà còn phải biết lắng nghe ngoài cuộc sống xã hội nữa. Hãy tập lắng nghe tiếng nói của người cô đơn, người phiền muộn, kẻ âu lo, người nghèo đói. Đối vời nhiều người, liều thuốc hiệu nghiệm nhất, món quà quý giá nhất, đó là có được một ai đó thực sự lắng nghe nỗi phiền muộn cũng như niềm vui sướng của họ và biết nói với họ những lời tình nghĩa yêu thương...

Anh chị em thân mến,

Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta đã được Thánh Thần mờ tai, mở lưỡi, mở mắt để ta có thể hiệp thông với Chúa và với anh chị em. Tuy nhiên, chúng ta thường vẫn điếc khi Chúa nói với chúng ta qua các biến cố thường ngày. Chúng ta vẫn câm, vẫn ngọng khi nói lời ngợi khen Chúa và lời cảm thông với anh chị em. Chính tính kiêu căng, lòng ích kỷ, tội lỗi đã bịt tai, cột lưỡi chúng ta lại không cho chúng ta hiệp thông với Chúa và với anh chị em. Vì thế, chúng ta còn phải nhờ quyền năng cứu chữa của Chúa Giêsu để ngày càng nghe rõ hơn, nói sành sõi hơn những lời ngợi khen Chúa, những lời cảm thông với anh chị em, ngày càng thấy rõ hơn đường lối kỳ diệu của Chúa và đường lối phục vụ anh chị em. Vì "Ngài làm được mọi sự tốt đẹp. Ngài làm cho người điếc được nghe, người câm được nói". Ngài chính là Đấng Thiên Sai Cứu Thế, nơi Ngài ơn cứu độ, sự giả thoát đã đến với chúng ta.

 

10. Lắng nghe – Gm. Arthur Tonne.

Một công ty xây cất lớn đang vẽ sơ đồ để xây một toà nhà mới. Năm kỹ sư trẻ và một kiến trúc sư làm việc trên bản thiết kế, họ đang bàn luận về những phương cách sắp xếp một phần nào đó của toà nhà. Khi một người trong nhóm đột nhiên đề nghị một điều anh nghĩ là một phương cách mới để thi hành. Những người khác nhìn anh đầy vẻ ngạc nhiên. Người trưởng nhóm phải trả lời anh rằng ý kiến của anh đã có người đề nghị rồi, đã cứu xét và đã bị bác bỏ. Điều gì xảy ra vậy. Người kỹ sư trẻ này đã không lắng nghe ý tưởng đó lần đầu tiên được đề nghị. Anh không nắm được vấn đề. Kết quả là anh không được thăng cấp, anh không được tăng lương. Anh đã phải trả cái giá không lắng tai nghe.

Rất khó nhận ra được biết bao người không lắng tai nghe. Đó là một lỗi rất thông thường đến nỗi nhiều trường cao đẳng có mở những lớp gọi là: "Viện lắng nghe" để tìm ra và chữa trị những nguyên do lắng nghe kém.

Chúng ta vừa nghe Chúa Giêsu chữa người không thể lắng nghe, vì họ điếc. Anh là một trong hàng triệu người điếc hay lãng tai. Có hàng triệu người khác có tai thính, nhưng họ không nghe, vì không lắng tai nghe. Vả lại, trong mọi lãnh vực đời sống, lắng tai nghe rất quan trọng.

Đời sống gia đình sẽ hạnh phúc hơn nhiều nếu mọi người biết lắng tai nghe, không phải với cái ý là để người khác nói nhưng là cố gắng nghe được điều người khác muốn nói. Sự thông cảm không phải là đường một chiều. Nói và lắng nghe đúng cách sẽ giúp hai người hôn phối chia sẻ không chỉ với ý tưởng và sự việc, mà còn với cảm nghĩ nữa. Cố gắng nghe những gì người khác cảm xúc cũng như những gì họ nói.

Dĩ nhiên con cái cần lắng nghe cha mẹ, nhưng cha mẹ cũng cần lắng nghe con cái mình. Hãy bình tĩnh nghe con trai, con gái bạn nghĩ gì, cảm gì.

Rất thường gặp một học sinh bỏ mất lời giảng nghĩa, vì em không chăm chú nghe ông thầy. Cùng lúc ấy ông thầy cũng phải lắng nghe khi học sinh trả lời hoặc đặt câu hỏi.

Lắng nghe một cách khôn ngoan rất quan trọng ở đây, trong nhà thờ. Lời Chúa nói những gì? Ý nghĩa của nó ra sao. Điểm chính yếu của bài giảng là gì? Hôm nay bạn có thể gồm tóm sứ điệp của chúng ta trong hai chữ "lắng nghe".

Chúng ta cần nói với Chúa trong kinh nguyện. Nhưng chúng ta cũng phải lắng nghe Chúa. Ít phút thing lặng sau khi rước lễ là lý tưởng để lắng nghe điều Chúa nói.

Hãy tập lắng nghe người cô đơn, người phiền muộn, người lo lắng. Với nhiều người, liều thuốc hiệu nghiệm nhất, món quà quí giá nhất là có ai đó thực sự lắng nghe nỗi phiền muộn cũng như nỗi vui mừng của họ.

Trong và qua Thánh Lễ, cũng chính Đức Giêsu, Đấng làm cho người điếc được nghe, sẽ giúp bạn và tôi học nghệ thuật như Chúa Kitô, để chân thành lắng nghe.

Xin Chúa chúc lành bạn.

 

11. Hãy mở ra - Noel Quesson.

Một ông già nổi tiếng là hiểu rộng. Ông học hành rất ít nhưng lại có kiến thức uyên bác. Nhiều người tới thăm ông và bàn luận với ông về nhiều vấn đề cao xa. Trong số đó, có một giáo sư nổi tiếng, cũng ngạc nhiên về ông và đặt câu hỏi:

- Ông lấy những hiểu biết đó ở đâu ra vậy? Tôi không thấy cuốn sách nào viết như thế.

Ông già đáp:

- Hàng ngày tôi đọc ba cuốn sách mà bất cứ ai cũng có thể đọc. Cuốn thứ nhất là những việc Chúa làm quanh tôi. Cuốn thứ hai là lương tâm của tôi. Và cuốn thứ ba là Kinh Thánh.

Đúng như ông già nói, những điều kỳ diệu có sẵn quanh ta, ai cũng có thể nhìn, ai cũng có thể nghe và nói về những điều kỳ lạ này. Nếu chúng ta không hiểu, là vì chúng ta không vận dụng ngũ quan và không muốn suy nghĩ tìm tòi. Chính Chúa Giêsu cũng nhiều lần phàn nàn về các môn đệ; Sao các con tối dạ thế? Có mắt mà không xem, có tai mà không nghe. Và chúng ta cần được Chúa chữa trị như Chúa đã chữa người câm điếc mà Tin Mừng mới kể.

Đây là một bệnh nhân thuộc vùng Siđon, dân ngoại bang. Sau một thời gian dài Chúa hoạt động ở Galilê, có một vài thành công nhưng cũng gặp nhiều thất bại. Một trong những thất bại đó, là bài diễn văn về bánh hằng sống, đa số dân chúng và các môn đệ không tiếp thu, họ đã bỏ Chúa mà đi. Chúa quay sang các dân ngoại bang, những người chưa biết Chúa nhưng có thiện chí, chỉ cần Chúa khai quang, họ sẽ nghe được Lời Chúa và biết lên tiếng ca ngợi Chúa.

Chúa chữa người câm điếc như thực hiện một bí tích. Cũng có một cử chỉ và một lời nói. Chúa đưa anh ra xa đám đông, chạm vào tai và lưỡi anh ta. Chúa ngước nhìn trời, cầu nguyện rồi nói: Hãy mở ra. Và anh khỏi câm khỏi điếc. Phép lạ nào cũng do niềm tin của người xin. Nhưng phép lạ cũng do sức mạnh từ thân mình Chúa Giêsu phát ra. Như các bí tích chúng ta chịu bây giờ, cũng là sự tiếp xúc giữa người lãnh nhận với vị chủ sự, đại diện Hội Thánh. Và có khi tiếp cận chính Chúa Giêsu, như bí tích Thánh Thể. Đó cũng là Đức Giêsu đã xuôi ngược trên các nẻo đường Do Thái xưa. Nhưng ít khi ta thấy phép lạ, vì niềm tin của ta còn yếu kém.

Chuyện người câm điếc được lành hôm nay cũng là một ẩn dụ. Vì vậy Chúa chữa bệnh với một lệnh truyền. Hãy mở ra. Lệnh này không phải nói tới cái tai và cái lưỡi, nhưng nói với người bệnh. Bệnh câm điếc thể xác là một khuyết tật ngoài ý muốn. Nhưng bệnh câm điếc tinh thần thì có thể là một lựa chọn của người bệnh. Có những lúc chúng ta không muốn nghe Lời Chúa nói trong tâm hồn, hay dạy dỗ ta qua Tin Mừng, có lúc chúng ta chẳng khác gì người câm điếc. Chúng ta mất khả năng giao tiếp với Chúa và với anh em. Chúng ta cần cầu xin Chúa, để Chúa chạm tới ta và nói với ta: Hãy mở ra, và chúng ta khỏi câm điếc, lại tiếp nối sự hiệp thông với Chúa, và anh chị em trong ân sủng và trong cuộc sống bác ái.

Lạy Chúa, xin chữa con khỏi câm khỏi điếc, xin cho con biết lắng nghe Lời Chúa, biết chia sẻ cuộc sống với anh chị em, biết nhiệt thành lên tiếng ca ngợi Chúa và loan báo Tin Mừng Cứu độ cho mọi người.

 

12. Câm điếc.

Trên một tờ báo, người ta đọc được một lời kinh cầu cho những người câm và điếc như sau:

- Lạy Chúa, nỗi đau khổ mà những người câm điếc phải gánh chịu, đó là thiên hạ coi họ như những kẻ chuyên môn gây phiền hà. Kết quả là họ thường phải xa lánh bạn bè và ngày càng trở nên khép kín. Vì thế, xin Chúa hay xót thương nhìn đến họ.

Lời kinh trên đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn đoạn Tin Mừng hôm nay, cũng như hiểu được niềm vui của người câm điếc được Chúa chữa lành, bởi vì đây là lần đầu tiên trong đời anh ta nghe được và nói được. Vậy tại sao Chúa lại chữa lành cho anh ta?

Lý do thứ nhất là vì qua việc chữa lành này, Ngài hoàn tất những dấu chỉ mà tiên tri Isaia đã nói đến để giúp dân chúng nhận ra Đấng Thiên sai, đó là kẻ điếc được nghe và người câm nói được.

Lý do thứ hai là qua việc chữa lành này, chúng ta thấy được lòng thương xót của Ngài. Thực vậy, người câm điếc thường mặc cảm khi tiếp xúc. Họ không hiểu gì cả nên cảm thấy như mình đứng bên lề những sinh hoạt của cuộc sống. Vì thế, khi dẫn anh ta ra khỏi đám đông, Chúa Giêsu đã biểu lộ lòng thương xót thực sự của Ngài đối với anh.

Sau cùng, lý do thứ ba đó là qua việc chữa lành này, chúng ta tìm thấy được niềm hy vọng. Thực vậy nhiều người trong chúng ta mặc dầu không câm và điếc về thể xác, nhưng lại câm và điếc về mắt tinh thần.

Chẳng hạn như họ không bao giờ nghe thấy tiếng Chúa nói với họ qua lương tâm, qua mười điều răn, qua Kinh Thánh, nhất là Phúc âm, qua Giáo hội cũng như qua những dấu chỉ của thời đại. Họ là những kẻ điếc về phương diện thiêng liêng.

Tiếp đến họ là những kẻ khô khan nguội lạnh, chẳng bao giờ biết thân thưa với Chúa qua những tâm tình cầu nguyện, cũng như không bao giờ mở miệng lên tiếng bênh vực Chúa và Giáo hội. Họ là những kẻ câm về phương diện thiêng liêng.

Còn chúng ta thì sao? Nếu như chẳng may chúng ta rơi vào tình trạng trên, nghĩa là chúng ta cũng đã là những người câm và nhưng kẻ điếc về phương diện thiêng liêng, thì chúng ta hãy tìm kiếm Chúa và cùng Ngài bước ra khỏi đám đông để được tận hưởng đôi chút thời gian gắn bó với Ngài, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Ngài mở tai và mở miệng chúng ta.

Nói cụ thể hơn, đoạn Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy cộng tác với Chúa trong việc chữa lành bệnh câm điếc thiêng liêng nơi chúng ta.

Tóm lại, qua đoạn Tin Mừng vừa nghe chúng ta nhận biết Ngài chính là Đấng Thiên sai mà tiên tri Isaia đã loan báo từ hàng trăm năm về trước. Hơn nữa chúng ta còn nhận biết được lòng thương xót của Ngài. Ngài đưa người câm điếc ra khỏi đám đông để chữa lành, bởi vì Ngài không muốn biến người ấy trở thành trò cười cho thiên hạ, nhưng Ngài muốn tiếp xúc thân mật với anh ta.

Cuối cùng chúng ta xin Chúa chữa lành câm điếc thiêng liêng mà chúng ta đang mắc phải để nhờ đó, chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa cũng như biết thân thưa cùng Chúa qua những tâm tình cầu nguyện.

 

13. Câm và điếc.

Tôi đã đọc một câu sau đây trong một cuốn sách: "Yếu tố đầu tiên trong một cuộc đối thoại là sự thật, thứ hai là có lương tri, thứ ba là tính hài hước vui vẻ, và cuối cùng là sự hóm hỉnh thông minh". Nhưng làm sao mà một người có thể đối thoại với người khác bằng miệng, nếu như anh ta vừa câm lại vừa điếc.

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành cho một người câm điếc.

Những người câm điếc thì không thể giao tiếp bằng miệng với chúng ta, bởi vì họ không nghe được và không nói được. Họ chỉ có thể giao tiếp qua các cử chỉ và dấu hiệu. Nhiều người có mặc cảm tự ti vì khuyết tật của họ. Nhiều người tàn tật cảm thấy xấu hổ và tránh né mọi người, vì sợ người khác cười nhạo khuyết tật của họ. Tôi tin là Chúa Giêsu hiểu rõ điều này, và vì thế Chúa đã đưa người câm điếc ra khỏi đám đông trước khi Chúa chữa cho anh ta.

Tuy nhiên, những người câm điếc không chỉ là những người thiếu khả năng nói và nghe. Chúng ta cũng có thể gặp thấy những người câm điếc về mặt xã hội. Họ là những người mà chúng ta không muốn nói chuyện, họ là những kẻ thấp cổ bé miệng, không có tiếng nói, không có thế lực và ảnh hưởng trong xã hội ngày nay. Họ có nói cũng chẳng có ai thèm lắng nghe họ. Giúp đỡ những con người phận nhỏ như thế là một cách chúng ta cám ơn Thiên Chúa, vì những ơn huệ lớn lao chúng ta đã nhận được. Hơn nữa, chúng ta cũng nên xét mình xem chúng ta thường sử dụng khả năng nghe và nói của mình như thế nào, để phụng sự Thiên Chúa và tha nhân hay đã lạm dụng nó?

Dù chúng ta có thể nghe và nói được, nhưng có thể chúng ta lại câm và điếc đối với những lời của Thiên Chúa phán dạy. Chúng ta câm điếc khi không giúp đỡ, không đáp ứng lại trước những nhu cầu cấp thiết của những người lâm cảnh túng quẫn, khi chúng ta có khả năng, nhưng đã giả tảng làm ngơ, không nghe thấy những tiếng cầu cứu của tha nhân. Chúng ta cũng lạm dụng miệng lưỡi khi vu khống hay nói xấu người khác, khi chúng ta phá hủy tiếng tốt của người khác qua những lời nói dối trá, gièm pha. Bạn có nhận ra những dấu hiệu câm điếc như thế nơi chính bạn hay không?

Lạy Chúa Giêsu, xin chữa lành tật câm điếc của con đối với lời của Chúa. Xin mở miệng con để con loan báo Tin Mừng của Chúa cho mọi người con gặp gỡ hàng ngày.

 

14. Phép lạ.

Các tác giả sách Tin Mừng đã ghi lại cho chúng ta những phép lạ của Chúa Giêsu. Nói đến các phép lạ tức là nói đến những điều lạ lùng, khác thường mà Thiên Chúa đã làm để bày tỏ hay minh chứng một điều gì. Thực vậy, mỗi phép lạ đều bày tỏ cho thấy quyền năng của Thiên Chúa. Ngài là chủ tể vạn vật trời đất, Ngài quyền phép vô cùng. Ngài có thể làm được mọi sự. Ngài là chủ tể của sự sống, Ngài là Đấng ban sự sống, Ngài mạnh hơn sự chết và tất cả những gì loan báo sự chết. Đàng khác, mỗi phép lạ còn cho thấy Thiên Chúa là Đấng thiện hảo, Ngài yêu thương con người và muốn cứu giúp con người. Các phép lạ Chúa Giêsu làm cũng trong ý hướng đó, Ngài làm những phép lạ thường là vì lòng thương, như thương người bệnh tật, thương người đói khát, thương người đau khổ, thương gia đình có người chết... Do đó, chúng ta có thể nói: Chúa Giêsu đã đến cho người ta thấy tình thương Thiên Chúa yêu thương loài người, và Ngài chứng tỏ tình thương ấy bằng cách giúp đỡ loài người.

Nhưng tình thương của Thiên Chúa không phải chỉ giúp đỡ đời sống thể xác của con người mà còn muốn cứu giúp cả con người toàn diện. Vì thế, những phép lạ của Chúa Giêsu còn có ý nghĩa sâu xa hơn, đó là những dấu chỉ của ơn cứu độ mà Ngài đem đến cho nhân loại, Chẳng hạn, khi chữa cho những người bại liệt, Ngài cho thấy Ngài có quyền tháo gỡ con người khỏi những ràng buộc của tội lỗi. Khi làm cho người mù sáng mắt, Ngài cho thấy Ngài là ánh sáng thật cho người ta nhìn ra "Đấng cứu độ". Khi hóa bánh ra nhiều cho hàng ngàn ngươi ăn no. Ngài cho thấy Ngài là bánh hằng sống đem lại sự sống muôn đời cho con người... Còn phép lạ chữa người câm điếc kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn cho mọi người thấy và biết điều gì?

Trước hết, chúng ta thấy cách hành động của Chúa Giêsu trong trường hợp này hơi khác thường, kỳ lạ: Chúa đưa người ấy ra xa đám đông, đặt ngón tay vào tai người ấy, lấy nước bọt thoa vào lưỡi người ấy, rồi Chúa ngước mắt lên trời, thở dài và bảo người ấy: "Epphata" nghĩa là "Hãy mở ra", kết quả: tai người ấy mở ra, nút buộc lưỡi người ấy được cởi ra, và người ấy nói được rõ ràng. Trong Tin Mừng chúng ta rất ít khi gặp trường hợp Chúa chữa bệnh một cách "vất vả" và khác thường như vậy. Những cử chỉ bên ngoài Chúa làm ở đây chỉ là để thúc đẩy lòng tin bên trong nơi người câm điếc mà thôi. Bởi vì đối với người câm điếc, không nghe được, không nói được, nên không còn cách nào khác hơn là chạm vào tai vào lưỡi người ấy. Theo quan niệm thời đó, người ta gán nguyên nhân bệnh tật cho ma quỷ: người câm là người bị quỷ câm cột lưỡi lại, Chúa thoa nước bọt vào lưỡi rồi phán một lời, tức thì nút cột lưỡi được tháo ra, cho thấy Ngài thắng được quyền lực của Sa tan để giải phóng con người.

Một điều đặc biệt nữa: Chúa Giêsu đã đưa người bệnh ra xa đám đông để chữa, bây giờ Ngài lại truyền cho người ta (người câm điếc và cả những người đã đưa người câm điếc tới) không được nói ra với ai. Chúng ta thấy chỉ thị này có vẻ kỳ cục, vì Ngài đã chữa cho người câm điếc này nói và nghe được, rồi lại cấm không được nói ra với ai thì làm sao cấm được? Làm sao nén được niềm vui của người đã được ơn lạ? Và làm sao nén được niềm vui của đám đông đã chứng kiến chuyện lạ? Bằng chứng là Ngài bảo người ta đừng nói thì người ta lại càng rao truyền mạnh hơn.

Đây là vấn đề về "bí mật Đấng Thiên Sai". Tin Mừng nhiều lần kể lại lời căn dặn giữ kín này sau các phép lạ chứ không phải chỉ có phép lạ hôm nay mà thôi, chẳng hạn Chúa cấm ma quỷ không được nói ra Ngài là ai, cấm những người đã được hưởng phép lạ hoặc chứng kiến không được nói ra, cấm các môn đệ không được nói ra Ngài là ai... Chúng ta có thể trả lời như sau: trong khung cảnh tâm lý của dân Do Thái lúc ấy, lòng háo hức mong chờ một Đấng Thiên Sai giải phóng họ khỏi đế quốc Rôma rất mãnh liệt, nên thấy Chúa Giêsu có uy quyền như thế, họ rất dễ ngộ nhận. Bởi vậy, Chúa căn dặn không được nói ra, vì chưa đến lúc có thể nói thẳng ra được, phải chờ cho đến lúc Ngài chết trên thập giá rồi mới có thể rao giảng, công bố cho mọi người biết Ngài là Đấng Thiên Sai mà không còn ngộ nhận nữa. Nói ngắn gọn: Chúa yêu cầu người câm điếc và những người chứng kiến không được nói ra cho ai biết để người ta khỏi hiểu lầm ý nghĩa của những phép lạ, cho rằng Ngài đến để cứu vớt người ta về mặt chính trị hoặc kinh tế, trong khi sứ mạng của Ngài không phải ở những khía cạnh đó.

Phép lạ là những sự lạ lùng để minh chứng quyền năng và tình thương của Thiên Chúa, đồng thời khơi dậy niềm tin hoặc củng cố niềm tin cho con người. Nhưng chúng ta hãy nhớ: một lòng tin chỉ dựa vào phép lạ là một lòng tin còn non nớt, yếu đuối và bồng bột, dễ thay đổi. Một lòng tin vững chắc không lệ thuộc vào những gì tai nghe mắt thấy, nhưng chỉ dựa vào lời Chúa, như Chúa Giêsu đã nói với tông đồ Tôma: "Hỡi Tôma. Anh thấy Thầy nên anh tin, nhưng phúc cho những ai không thấy mà tin".

Ngày xưa cũng như ngày nay, phép lạ không phải là cách thế thường xuyên và rõ ràng nhất để làm chứng về Chúa Kitô và về đạo của Ngài. Có những cách chắc chắn hơn để làm chứng, đó là niềm tin chân thành, can đảm và vui tươi của người Kitô, là đời sống bác ái và lòng yêu thương của người Kitô, là sự quên mình xả thân vì người khác theo gương Chúa Kitô. Xin Chúa cho chúng ta luôn tin tưởng và sống được như thế để làm chứng cho Chúa.

 

15. Câm điếc.

Chúng ta thường bảo: Không ai có thể sống cô độc lẻ loi một mình, như một hòn đảo giữa biển khơi, hay như một pháo đài biệt lập. Trái lại, chúng ta sống là sống với người khác, trong một cộng đồng, trong một xã hội. Và để cuộc sống chung này được tốt đẹp, chúng ta cần phải tạo lấy những mối liên hệ đầy yêu thương và cảm thông. Tuy nhiên, muốn tạo được những mối liên hệ đầy yêu thương và cảm thông, chúng ta cần phải nói cho nhau nghe, cũng như cần phải nghe nhau nói.

Trước hết là hãy nói cho nhau nghe. Ngôn ngữ và tiếng nói chính là phương tiện Chúa đã trao ban để chúng ta truyền đạt những ý nghĩ, những tư tưởng, những ước muốn cho người khác, nhờ đó họ sẽ hiểu chúng ta và cảm thông với chúng ta hơn. Thế nhưng, chúng ta không phải chỉ biết nói, mà còn phải biết nghe. Có biết nghe người khác nói, chúng ta mới ghi nhận được những ý kiến và đóng góp của họ. Bằng không, chúng ta chỉ là những kẻ độc thoại, nói một mình mà chẳng biết có ai lưu tâm đến hay không. Chính vì thế, việc biết nghe nhau nói cũng quan trọng không kém việc biết nói cho nhau nghe. Nói và nghe là những phương tiện, những khả năng giúp chúng ta liên hệ với người khác, nhờ đó tạo được một sự cảm thông chân thành. Nếu không có những phương tiện này, nếu không có những khả năng này, chúng ta sẽ phải mãi mãi sống trong sự cô độc lẻ loi và bị loại trừ. Người câm điếc qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, đã lâm vào một tình cảnh bi đát. Anh ta đau khổ biết bao vì không được nói với ai, cũng như chẳng được nghe ai nói với mình. Anh ta không thể hiểu người khác và người khác cũng khó mà hiểu được anh ta. Cảm thông tình cảnh bi đát ấy, Chúa Giêsu đã chữa anh ta khỏi câm và điếc, để anh được trở lại với cuộc sống xã hội, cuộc sống với người khác. Kể từ nay, anh ta có thể liên hệ với mọi người mà không còn tự ti mặc cảm nữa.

Trong phạm vi thiêng liêng cũng vậy, chúng ta không thể sống cô độc lẻ loi, trái lại, chúng ta còn sống với Chúa và với anh em. Vì thế, rất có thể lúc này, mặc dù chúng ta không câm điếc về phần xác nhưng biết đâu chúng ta lại câm điếc về phần hồn, một sự câm điếc thiêng liêng. Chúng ta câm điếc khi lặn ngụp trong tội lỗi, không còn lắng nghe tiếng Chúa nói với chúng ta qua lương tâm, qua thiên nhiên, cũng như qua những biến cố xảy đến trong cuộc sống. Chúng ta câm điếc khi không còn dâng lên Chúa lời chúc tụng và cảm tạ tình thương Ngài đã dành cho chúng ta. Chúng ta câm điếc khi con tim đã trở nên chai đá, không còn biết rung động trước nỗi khổ đau của người khác. Chúng ta câm điếc khi không còn lắng nghe, cũng như không còn nói được những lời an ủi và khích lệ người khác. Chúng ta câm điếc khi tự coi mình là một ốc đảo, chỉ biết sống cho riêng mình và tệ hơn nữa, coi người khác là như hỏa ngục, là như một sự quấy rầy và phiền nhiễu.

Bởi đó, xin Chúa hãy mở miệng và mở tai chúng ta, để chúng ta biết lắng nghe và loan truyền lời Chúa, cũng như biết chia sẻ nỗi khổ đau với những người chung quanh.

 

16. Tặng vật.

Khả năng nghe và nói là hai tặng vật lớn. Giống như mọi tặng vật, người ta có thể coi là việc đương nhiên hoặc sử dụng sai lầm. Chúng có quan hệ với nhau. Chúng ta thấy điều đó đặc biệt nơi những người lớn tuổi. Khi họ lãng tai, họ trở nên câm lặng. Người đàn ông đến với Đức Giêsu vừa bị điếc, vừa nói ngọng. Đức Giêsu chắc hẳn đã biết anh.

Những người có thính giác kém thường lúng túng và vụng về và buồn cười. Thính giác kém dẫn người ta đến sự im lặng bối rối, khiến người khác phải hiểu lầm. Ngày nay những phương tiện trợ giúp cho thính giác đã làm giảm nhẹ nỗi đau khổ của họ nhưng không làm biến mất hoàn toàn.

Tặng vật nói được là phương tiện chính để chúng ta truyền thông với người khác. Người nói ngọng thường làm trò cười cho người khác.

Chúng ta thấy nỗi đau khổ mà Đức Giêsu chịu thay cho người khốn khổ ấy, và sự săn sóc mà Người dành cho người ấy. Người dẫn anh ta ra khỏi đám đông để Người có thể chăm sóc cho anh trong sự riêng tư và dành cho anh sự quan tâm trọn vẹn. Thay vì nói với anh, Người sờ vào tai và lưỡi anh. Như thế, Người làm cho anh ta cảm thấy điều anh không thể nghe được.

Phép lạ có ảnh hưởng lớn đến chúng ta, không phải vì chúng ta điếc hoặc câm (may mắn thay, đa số chúng ta không bị), nhưng chính xác vì chúng ta có được tặng vật là nghe được và nói được. Việc chúng ta có được những tặng vật ấy không có nghĩa là chúng ta sử dụng chúng tốt. Nhiều người là những thính giả rất nghèo nàn. Và nhiều người gặp sự khó khăn khi diễn tả biểu lộ.

Nghe được mà không chịu nghe (điều phải) thì số phận còn tệ hơn bị điếc từ lúc sinh ra. Có tai mà không chịu nghe hoặc có lưỡi mà không chịu nói hẳn là tệ hơn rồi. Vì thế, chúng ta cần Chúa sờ vào để chữa lành nếu chúng ta muốn sử dụng tốt hai tặng vật quí giá ấy.

Các giác quan của chúng ta quí giá và sống động. Chúng ta cũng phải cảm nghiệm Thiên Chúa với các giác quan của chúng ta: với mắt, tai, lưỡi, và đặc biệt với tâm hồn chúng ta.

Phép lạ không chú trọng sự chữa lành thể chất của người đàn ông vừa điếc vừa câm. Đúng hơn phép lạ chú trọng đến việc mở tai cho người ấy để anh ta có thể nghe Lời Thiên Chúa và cởi trói cái lưỡi của anh để anh có thể tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu. Một người có thể nghe tốt, nhưng lại không nghe Lời Chúa. Một người có thể nói sõi nhưng không thể tuyên xưng đức tin.

Vì thế, không gì ngạc nhiên khi linh mục sờ tai và lưỡi trong nghi thức Thanh Tẩy từ những thời kỳ sơ khai và ngày nay vẫn thế. Linh mục chủ tế sờ vào tai và miệng của người nhận phép Rửa tội và nói: "Chúa Giêsu đã làm cho người điếc nghe được và người câm nói được. Xin Người cũng sờ vào tai anh/ chị để anh/ chị đón nhận lời Người và sờ vào miệng anh/ chị để anh/ chị tuyên xưng đức tin vào Người, để ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa Cha chúng ta".

Chúng ta cần khả năng nghe Lời Thiên Chúa. Rồi cần khả năng tuyên xưng Lời ấy vào thực tiễn của cuộc sống. Lời của Thiên Chúa, một khi được nghe và thực hành, sẽ giống như hạt giống rơi xuống đất tốt; nó làm cho đời sống của chúng ta sinh hoa kết quả.

 

17. Tin Mừng.

Tên tôi là James. Vì hoàn cảnh bị điếc, tôi bị thiệt thòi rất nhiều đến nỗi những người khác coi là việc đương nhiên. Tôi không thể nghe tiếng la hét của các em bé đang chơi, tiếng chim hót, tiếng gió thổi trên cây. Tôi không thể nghe những lời an ủi, động viên hoặc cảnh báo. Ít người chịu cố gắng thông tin cho người điếc. Họ thấy điều đó rất tẻ nhạt. Tôi cảm thấy cô đơn kinh khủng.

Thực tế tôi cũng bị câm, nó càng làm tăng thêm cảm giác bị loại trừ và cô độc. Tôi không thể giãi bày. Tôi không thể diễn tả cảm giác của tôi. Những người vô tình đã cười nhạo sự nói lắp của tôi.

Tôi không có cơ hội để đóng góp gì cho cộng đoàn. Hậu quả là, tôi cảm thấy vô dụng và trở thành vô dụng. Người ta ngại chạm vào tôi. Bị tàn tật là gặp khó khăn. và khi bạn khó khăn, người ta sợ bạn. Hơn thế nữa, tôi còn đi đến chỗ tin rằng sự tàn tật của tôi là do Thiên Chúa trừng phạt.

Tôi đầy lòng thương cảm chính mình. Tôi ao ước được người ta thương xót. Tôi tin chắc không một ai hiểu và thương xót tôi. Cho đến một ngày kia, tôi biết được Đức Giêsu. Dù Người là dân Do thái, còn tôi là dân ngoại, tôi cũng không ngã lòng thối chí đi tìm sự giúp đỡ của Người.

Quả là một kinh nghiệm tuyệt vời! Việc đầu tiên Người làm là kéo tôi ra khỏi đám đông, và dành cho tôi sự quan tâm trọn vẹn của Người. Điều này làm cho tôi cảm thấy rằng Người coi tôi quan trọng. Đồng thời Người cứu tôi khỏi sự tò mò của những người lắm chuyện.

Người không nói với tôi như thể Người tiết kiệm lời nói. Trái lại, Người đã sờ vào tôi. Người đã làm cho tôi cảm nhận điều mà tôi không thể nghe được. Không có gì thô lỗ và vội vàng khi Người sờ tôi. Đó là một cử chỉ dịu dàng, nhẫn nại và yêu thương.

Người đặt ngón tay Người vào lỗ tai tôi. Rồi Người đặt ngón tay Người vào miệng Người, lấy ra một ít nước bọt trị bệnh và đặt nó vào lưỡi tôi. Kế đó, Người ngước mắt lên trời để cho tôi thấy rằng đây là sự giúp đỡ đến từ Thiên Chúa. Rồi với một tiếng thở dài lớn, Người nói: "Hãy mở ra!". Và thình lình tai tôi được mở ra và lưỡi tôi trở lại bình thường. Tôi đã được chữa khỏi!

Người nói với tôi chớ nên loan truyền điều Người đã làm cho tôi. Nhưng tôi không thể giữ im lặng. Có quá nhiều điều bị dồn nén bên trong tôi đến nỗi trước hết tôi nói liên tục, không ngừng. Tôi không thể đi qua một người nào trong phố mà không nói: "Xin chào". Tôi không thể giữ im lặng khi gặp một người đang đau khổ nếu tôi cảm thấy một lời của tôi có thể nâng đỡ người ấy. Tôi cũng không thể đứng nhìn hành động bất công mà không tố giác nó.

Nhưng không bao lâu, tôi đã nhận ra rằng tôi đã nói quá nhiều. Tôi đã không lắng nghe. Điều này khiến tôi làm tổn thương người khác. Vì thế tôi quyết định cố gắng lắng nghe người khác. Điều này có nghĩa là tôi phải ngừng nói. Tôi cũng nghe những âm thanh của thiên nhiên, của âm nhạc, tiếng cười và tiếng khóc.

Tôi đã khám phá một số điều lý thú trong suốt những tháng đầu tiên sau khi tôi khỏi bệnh. Tôi thấy mỗi người đều có những trở ngại nào đó ngăn cản họ sử dụng trọn vẹn tặng vật nói được như e thẹn, vô tình, vô cảm ... Và họ đều có những trở ngại nào đó ngăn cản họ nghe tốt như thiên kiến, phân tâm, khước từ việc lắng nghe...

Tại sao tôi nói với bạn điều đó? Chính là để tránh cho số phận của những người có tai nhưng không thể nghe và có lưỡi nhưng không thể nói. Từ kinh nghiệm của tôi, tôi đã khám phá ra điều này: bi kịch lớn nhất không phải là sinh ra điếc và câm, nhưng là có tai mà không chịu nghe và có lưỡi mà không chịu nói điều phải.

Nghe và nói là hai tặng vật lớn. Nhưng nếu không có một tâm hồn có khả năng cảm nhận lòng thương xót, chúng ta sẽ không bao giờ có thể sử dụng tốt việc nghe và nói. Chỉ với tâm hồn, chúng ta mới có thể nghe đúng, và chỉ với tâm hồn, chúng ta mới có thể nói đúng.

Đấng đã sờ vào tai tôi và lưỡi tôi, cũng sờ vào tâm hồn tôi. Có như thế thì mọi việc mới làm tôi đổi mới. Đó là một phép lạ buổi sáng trước ánh mặt trời.

 

18. Cần chữa lành bệnh điếc và ngọng tâm linh - JKN

Câu hỏi gợi ý:

1. Chúng ta vẫn gặp được những người điếc, ngọng, câm thể chất, họ chiếm một tỉ lệ thấp trong xã hội. Thế còn những người điếc, ngọng, câm tinh thần và tâm linh thì sao? tỉ lệ của họ cao hay thấp trong xã hội và Giáo Hội? Bản thân ta có bị bệnh điếc, ngọng, câm tinh thần hay tâm linh này không?

2. Điếc và ngọng về tinh thần và tâm linh nghĩa là gì? Đó là bệnh cá nhân hay xã hội? một xã hội hay giáo hội có thể bị điếc và ngọng không?

3. Có ai bị điếc và ngọng đối với chân lý không? Tại sao họ lại bị điếc và ngọng trong lãnh vực này?

Suy tư gợi ý:

1. Các thứ bệnh điếc và ngọng: thể chất, tinh thần, tâm linh, nơi cá nhân, xã hội và giáo hội

Trong xã hội con người, có rất nhiều người bị bệnh: bệnh thể chất, bệnh tinh thần, và bệnh tâm linh. Đó là nói về bệnh cá nhân. Ngoài ra, một xã hội cũng có thể có nhiều chứng bệnh: bệnh thể lý như dịch tễ, bệnh tinh thần như sự bất công, áp bức, các tệ nạn xã hội (đĩ điếm, ma túy), bệnh tâm linh như vô tín, đạo đức xuống dốc, tình trạng tội lỗi... Một cộng đoàn tôn giáo có thể bị những bệnh như: cơ cấu làm tê liệt thần khí, hình thức bên ngoài làm mất đi tinh thần bên trong, quyền bính bị lạm dụng, chia rẽ không hiệp nhất, trên dưới không nghe nhau, khô khan nguội lạnh, thỏa hiệp với kẻ ác...

Đức Giêsu đến trần gian để chữa chủ yếu những bệnh tinh thần và tâm linh của con người, của xã hội và giáo hội, nhưng Ngài cũng chữa cả những bệnh thể lý như dấu chỉ khả năng chữa lành tinh thần và tâm linh. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Ngài chữa lành «một người vừa điếc vừa ngọng» thể lý, là dấu chỉ của loại bệnh «vừa điếc vừa ngọng» tinh thần hay tâm linh. Điếc là không nghe được, hoặc không nghe rõ. Ngọng là không nói được, hoặc nói không rõ, khó nghe. Số người điếc, ngọng, câm thể lý chiếm một tỉ lệ tương đối nhỏ trong xã hội. Nhưng số người điếc, ngọng, câm về tinh thần và tâm linh chiếm một tỉ lệ rất cao. Thậm chí có cả bệnh «câm điếc xã hội», nghĩa là có những xã hội bị điếc, ngọng và câm nữa. Nếu Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay có thể chữa lành bệnh điếc và ngọng thể lý, thì Ngài còn có thể chữa lành một cách hữu hiệu hơn nữa bệnh điếc và ngọng về tinh thần, tâm linh, nơi cá nhân cũng như trong xã hội và giáo hội.

2. Điếc, ngọng về tinh thần và tâm linh

Điếc và ngọng về thể chất thì ai cũng biết, thiết tưởng chúng ta không cần đề cập tới trong khuôn khổ nhỏ hẹp của bài chia sẻ Tin Mừng này. Chúng ta cần bàn tới bệnh điếc và ngọng về tinh thần và tâm linh, mà ai trong chúng ta cũng bị không nhiều thì ít.

Nhiều người thính và tinh tai thể chất, nhưng lại điếc về tinh thần và tâm linh. Họ rất thính tai khi nghe những gì liên quan đến tiền tài, của cải, lạc thú, danh vọng, quyền lực, địa vị, nhưng lại trở nên giống như điếc khi nghe những điều hay lẽ phải, những chân lý đem lại sức mạnh tinh thần hay tâm linh, giúp họ sống yêu thương nhiều hơn. Nhiều người nói năng rất hùng biện về kiến thức, triết lý, khoa học, về đủ mọi đề tài... nhưng lại hành xử như người câm, hoặc cảm thấy rất ngượng nghịu, mắc cỡ khi phải nói lên điều hay lẽ thật, những lời chân thành yêu thương, những lời làm mát lòng người khác, những lời đem lại bình an, hòa thuận, những lời giúp mọi người hiểu ra đường ngay lẽ thật.

3. Điếc và ngọng trước chân lý

Nhiều người đã trở thành điếc trước những quan niệm mới, những cách nhìn mới hay những cách diễn tả mới về chân lý. Vì họ luôn luôn cho rằng những quan niệm, cách nhìn hay cách diễn tả chân lý mà họ lãnh hội được trước đây chính là chân lý. Mà đã là chân lý thì không bao giờ thay đổi. Thực ra, chân lý thì bất biến, muôn đời không thay đổi, nhưng cách hiểu, sự lãnh hội và cách diễn tả chân lý của con người thì luôn luôn thay đổi tùy theo khả năng nhận thức của họ. Cũng như cơ cấu của vật chất, từ ngàn xưa đến nay không hề thay đổi, nhưng quan niệm, cách nhìn, cách mô tả của con người về cơ cấu vật chất luôn luôn thay đổi: càng về sau, con người càng quan niệm và diễn tả đúng hơn.

Một khi đã coi một quan niệm, cách nhìn hay cách diễn tả nào đó là chân lý bất biến, con người sẽ không còn khả năng chấp nhận những cách diễn tả khác phù hợp với thời đại mới, với nhận thức mới của con người thời đại. Ta đã thấy gương về sự cố chấp này trong Kinh Thánh: Thiên Chúa thì bất biến, nhưng cách diễn tả Thiên Chúa trong Cựu Ước và Tân Ước rất khác nhau. Các kinh sư Do-thái chính vì cố chấp vào cách diễn tả cũ nên họ đã không chấp nhận được Đức Giêsu, với quan niệm mới, cách nhìn mới, cách diễn tả mới mẻ về Thiên Chúa của Ngài. Vì thế, họ đã nhắm mắt bịt tai trước lời của Ngài: lời Ngài có vẻ như không phù hợp với quan niệm rất hạn hẹp của họ. Tâm trí họ giống như một tách trà đã đầy nước, không thể tiếp nhận thêm một giọt nước nào nữa, nếu cứ rót vào, nước trà sẽ tràn ra ngoài.

Một khi đã điếc trước cách diễn tả mới về chân lý, họ cũng trở thành câm hay ngọng đối với cách diễn tả ấy.

4. Điếc và ngọng trong xã hội và tôn giáo

Trong những xã hội hay tôn giáo độc tài, chỉ có một bè đảng, một phe nhóm hay một giáo phái nào đó được ưu đãi và toàn quyền hành động, thì người dân luôn luôn phải chịu cảnh bất công áp bức. Lúc đó, người dân sẽ trở thành những kẻ điếc và ngọng. Điếc vì họ bị bọn cầm quyền bưng bít không cho nghe những thông tin nào bất lợi cho chúng, khiến cho người dân trở nên bức xúc và đấu tranh. Ngọng hay câm vì họ không thể nói lên được những uất ức, những bực bội, những tư tưởng, những ước muốn của họ. Đương nhiên bị điếc và ngọng thì hết sức bực bội, khổ não, và không hạnh phúc.

Trong những xã hội hay tôn giáo ấy, còn một loại điếc và ngọng khác, đó là bệnh điếc và ngọng của những người theo lý tưởng ngôn sứ. Đó là một lý tưởng cao đẹp tuyệt vời! Lý tưởng này rất cần thiết, đặc biệt trong những xã hội hay tôn giáo đang chịu đầy dẫy bất công áp bức. Lý tưởng đó là «loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, giải phóng những kẻ bị giam cầm, cho người mù được sáng mắt, trả lại công lý cho người bị áp bức» (Lc 4,18). Sách Châm ngôn diễn tả một công việc quan trọng của những người mang lý tưởng đó: «Con hãy mở miệng nói thay cho người câm, và biện hộ cho mọi người bất hạnh. Hãy mở miệng phán xử thật công minh, biện hộ cho những kẻ nghèo nàn khốn khổ» (Cn 31,8-9). Nhưng có rất nhiều người mang danh theo lý tưởng ngôn sứ này, đáng lẽ họ phải nói thay cho người câm hay ngọng, nhưng tiếc thay chính họ dường như cũng bị câm và ngọng luôn! Thay vì sáng mắt thính tai để nghe và thấy tình cảnh khốn cùng của những người chung quanh mình hầu lên tiếng thay cho họ, thì họ cố tình giả điếc làm ngơ, bưng tai bịt mắt để khỏi thấy, hầu có thể câm miệng làm thinh cho yên thân, để «cố đấm ăn xôi» hay «ngậm miệng ăn tiền»!

5. «Épphatha», hãy mở ra!

Tuy không điếc và ngọng thể lý, nhưng rất có thể chúng ta đang bị điếc và ngọng về tinh thần hay tâm linh. Điếc và ngọng thể lý thì không phải chịu trách nhiệm về căn bệnh. Nhưng điếc hay ngọng về tinh thần hay tâm linh, thì chúng ta sẽ bị quy kết trách nhiệm trước Thiên Chúa và lương tâm của mình. Vì thế, xét về mặt tâm linh, điếc và ngọng tinh thần hay tâm linh nguy hiểm hơn nhiều. Bị căn bệnh tâm linh này, chúng ta cần chữa cho khỏi. Dù là điếc, ngọng hay câm loại nào, Đức Giêsu cũng có thể chữa lành được, miễn là chúng ta tin vào quyền năng của Ngài và quyết tâm cộng tác với Ngài. Chỉ cần Ngài rờ vào cái tai tâm linh và cái miệng tâm linh của ta và truyền cho chúng: «Épphatha, hãy mở ra!» là bệnh điếc, ngọng, câm tâm linh của ta sẽ được chữa lành. Điều quan trọng là chúng ta phải xác định được mình đang thật sự bị điếc và ngọng về tâm linh thì Ngài mới chữa lành ta được! Nếu bị bệnh mà mình lại cứ nói mình chẳng bệnh gì cả, thì Chúa có quyền năng đến đâu Ngài cũng đành bó tay. Hãy nghe Đức Giêsu nói với người Pharisêu: «Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: "Chúng tôi thấy", nên tội các ông vẫn còn!» (Ga 9,41).

Cầu nguyện

Lạy Cha, con cảm thấy con đang bị điếc và câm - hay ít ra là đang giả điếc và giả câm - trước lời mời gọi của Cha. Cha mời con mở to mắt ra để thấy những nỗi cùng khốn của những người chung quanh con, banh lỗ tai ra để nghe những tiếng rên xiết đau thương của họ, đồng thời mở miệng ra để an ủi họ, xoa dịu đau thương cho họ, và nhất là nói dùm họ, tranh đấu cho họ... Nhưng con đang giả mù giả điếc để có thể câm lặng... hầu được an thân, hầu khỏi bị mất mát những gì mà kẻ áp bức đang ban cho con! Xin Cha hãy chữa lành bệnh ấy cho con!

 

19. Câm điếc tâm linh – Lm. Mark Link.

Chủ đề: "Nhiều người trong chúng ta bị câm điếc về mặt tâm linh cần được Chúa Giêsu chữa lành"

Một phụ nữ kia có người bạn bị điếc. Ngày nọ bà ta hỏi người bạn muốn được tặng gì vào ngày sinh nhật. Người bạn ấy đáp lại thật bất ngờ: "Xin bạn hãy vui lòng viết thư cho Ann Landers yêu cầu bà ta in lại bảng kinh cầu nguyện cho người điếc. Bà ấy đã từng in nó trước đây vào mục của bà trong một tờ báo, nhưng tôi đã đánh mất bản sao mục đó rồi!". Thế là người phụ nữ đã viết thư cho Ann Landers. Và vào ngày 1.6 ngày sinh nhật của cô bạn, bà Ann đã in lại lời cầu nguyện đó trong cột báo của mình. Một đoạn trong lời cầu đó như sau:

"Lạy Chúa, nỗi đau khổ mà người điếc phải gánh chịu là đa số thiên hạ xem họ như những người chuyên làm phiền người khác. Người ta thường thiện cảm với người mù, người què, nhưng lại thường nổi xung và bực bội với người điếc. Kết quả là người điếc thường phải trốn lánh bạn bè và càng ngày càng trở nên khép kín" (William Barclay)

Lời kinh trên cho chúng ta thấy một nỗi niềm, một uẩn khúc nào đó của người điếc mà chúng ta thường ít người nhận ra được. Đa số chúng ta đều cho rằng mù thì tệ hại hơn điếc. Thế nhưng Helen Keller vừa bị mù lẫn điếc thì cho rằng bị điếc không nghe được, thì quả là phần lớn những cánh cửa trong cuộc đời ta đã bị khép chặt lại, chẳng hạn: mở radio thì chả hiểu gì, xem truyền hình cũng chả thú vị gì mà còn phát chán, và hầu như không thể trò chuyện với ai được cả. Vì thế, sau một thời gian chúng ta sẽ cảm thấy cô đơn như bị bỏ rơi.

Câu chuyện về người điếc nói trên giúp ta hiểu rõ hơn bài Phúc Âm hôm nay. Nó giúp ta hiểu được người câm điếc vui sướng như thế nào sau khi được Chúa Giêsu chữa lành. Lần đầu tiên trong cuộc đời anh ta cảm nếm được một phần nào vui thú của cuộc sống.

Điều này dẫn chúng ta đến một vài câu hỏi:

Tại sao Chúa Giêsu đã chữa lành người câm điếc ấy?

Tại sao Ngài đã khai thông lỗ tai người ấy?

Tại sao Ngài đã phục hồi miệng lưỡi người ấy?

Câu trả lời nằm trong bài đọc thứ nhất ngày hôm nay. Trong lời mô tả vài dấu chỉ sẽ xảy ra khi Đấng Mêsia đến, tiên tri Isaia đã nói: "Kẻ điếc sẽ được nghe, ai không nói được sẽ mừng rỡ reo lên"... Qua việc chữa lành người câm điếc trên, Chúa Giêsu đã hoàn tất hai dấu chỉ mà tiên tri Isaia đã nói để giúp dân chúng nhận ra Đấng Mêsia. Vậy, một trong những mục đích của việc chữa lành ngày hôm nay là xác nhận rõ hơn Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia.

Tuy nhiên, việc chữa lành ngườì câm điếc kia còn tỏ lộ một điều ẩn kín nào đó nơi bản thân Đức Giêsu. Nó cho ta thấy Đức Giêsu là một mẫu người giàu lòng thương xót. Điều này đặc biệt biểu lộ qua cung cách Ngài tách biệt anh chàng câm điếc ra khỏi đám đông. Như ta biết, người điếc thường hay mặc cảm nên lúng túng trước tình cảnh của mình. Họ không hiểu ất giáp gì cả khi nghe người ta hỏi, nên họ luôn cảm thấy mình như ở ngoài rìa. Vì thế khi dẫn anh chàng câm điếc ra khỏi đám đông, Chúa Giêsu đã biểu lộ lòng xót thương thực sự của Ngài đối với anh, Ngài rất nhạy cảm đối với tình cảnh đáng thương của anh. Như thế ngoài việc tỏ cho ta biết Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, việc chữa lành người câm điếc còn cho ta thấy rõ lòng thương xót của Đức Giêsu.

Cuối cùng, việc Đức Giêsu chữa lành cho người câm điếc đã tạo nên nguồn hy vọng cho chúng ta là những kẻ đang sống ở thời đại ngày nay.

Trạng thái của người câm điếc không giống trạng thái của riêng chúng ta. Nhiều người trong chúng ta không điếc về thể lý nhưng lại điếc về tâm linh. Chúng tôi muốn ám chỉ gì đây? Hãy dùng một ví dụ để làm sáng tỏ.

Mới đây một bà mẹ và ông bố đến thăm đứa con gái của họ đang lâm trọng bệnh ở nhà thương. Ngay khi họ lái xe rời bệnh viện, bà mẹ bắt đầu vừa khóc vừa nói; "Anh Ron ơi, em chả biết rõ điều gì đang xảy đến cho em, lẽ ra 10 năm trước em có thể cầu nguyện với tất cả tấm lòng cho con gái chúng ta. Lẽ ra em có thể trình bày với Chúa về nó, và lẽ ra em có thể nghe lời Chúa dặn dò em "Đừng lo". Thế nhưng em không còn làm điều ấy được nữa. Em không còn cầu nguyện được nữa, em không thể nói chuyện với Chúa như em đã thường làm. Hình như về mặt thiêng liêng em đã trở nên như câm như điếc".

Câu chuyện trên mô tả tình trạng của nhiều người trong chúng ta. Chúng ta đôi lúc cũng cảm thấy khó cầu nguyện khác với chúng ta ngày xưa. Chúng ta cũng cảm thấy khó đối thại với Chúa và chúng ta cũng cảm thấy khó khăn trong việc nghe Chúa nói với chúng ta. Vậy trong trường hợp này, chúng ta phải làm gì? Câu trả lời đã nằm sẵn trong bài Phúc Âm hôm nay. Chúng ta có thể bắt chước người câm điếc trên, nghĩa là tìm kiếm Chúa Giêsu, cùng Ngài bước ra khỏi đám đông và tận hưởng đôi chút thời gian bên sự hiện diện có khả năng chữa lành của Ngài.

Bài Phúc Âm hôm nay khuyên chúng ta nên tạo điều kiện thuận lợi cho Chúa Giêsu để Ngài mở miệng lưỡi chúng ta về mặt thiêng liêng, để Ngài đặt ngón tay của Ngài khai mở đôi tai điếc của chúng ta. Nó cụ thể hơn, Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy làm lại những gì chúng ta đã từng có thói quen hay làm, tức là bỏ ra ít phút mỗi ngày để cầu nguyện, để Chúa Giêsu thực hiện nơi chúng ta điều Ngài đã làm cho người câm điếc ấy, nghĩa là bài Phúc Âm mời gọi chúng ta hãy để Chúa Giêsu chữa lành bệnh câm điếc của chúng ta.

Như thế, câu chuyện người câm điếc trên nói với chúng ta 3 điều; Thứ nhất, nó mặc khải cho chúng ta Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia của Israel đã được mong đợi từ lâu. Đức Giêsu đã thực hiện điều mà Isaia tiên báo Đấng Mêsia sẽ làm, tức là cho người điếc được nghe và người câm nói được.- Thứ hai, câu chuyện người câm điếc mặc khải cho ta biết Chúa Giêsu là Đấng giàu lòng xót thương. Ngài đưa người điếc ra khỏi đám đông để chữa lành cho người ấy. Ngài không biến người ấy thành trò cười cho thiên hạ mà muốn tiếp xúc thân mật riêng tư với người ấy. - Cuối cùng, bài Phúc Âm mặc khải cho chúng ta phương pháp giải quyết các vấn nạn mà nhiều người trong chúng ta đang gặp phải ngày hôm nay. Đó là chúng ta không còn cầu nguyện được nữa, không còn thưa chuyện với Chúa, lắng nghe lời Ngài nói trong tâm hồn chúng ta được nữa. Về mặt thiêng liêng quả thực chúng ta đang bị câm điếc.

Để tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề khổ tâm này, chúng ta hãy bắt chước người câm điếc, là tìm kiếm Chúa Giêsu và xin Ngài chữa lành chúng ta. Cụ thể hơn, chúng ta hãy để riêng vài phút mỗi ngày tiếp xúc với Chúa Giêsu ngõ hầu Ngài sẽ chữa lành và làm cho chúng ta hoàn toàn khoẻ mạnh trở lại.

 

20. Ep-pha-ta – Lm. Đan Vinh.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1) Ý chính: "Ep-pha-tha: hãy mở ra" (Mc 7,34).

Duy chỉ có Tin Mừng Máccô thuật lại việc Đức Giêsu chữa lành một người bị câm điếc. Người thực hiện phép lạ chữa bệnh này tại miền Thập Tỉnh, là nơi hầu hết cư dân là dân ngoại. Người đã chữa bệnh câm điếc này bằng các cữ chỉ như sau: đặt ngón tay vào tay anh ta, bôi nước miếng vào lưỡi anh ta, ngước mắt lên trời cầu nguyện, rên lên một tiếng và nói: "Ep-pha-ta!: "Hãy mở ra!". Lập tức bệnh nhân được chữa lành: tai anh ta đã mở ra để nghe được và lưỡi anh ta đã được tháo cởi sợi dây ràng buộc để nói được rõ ràng.

2) Chú thích:

- Đức Giêsu lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đon, đến biển hồ Galilê vào miền Thập Tỉnh. Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giêsu, và xin Người đặt tay trên anh (Mc 7,31-32):

- Bỏ vùng Tia: Tia là một thành thuộc nước Phê-ni-xi-a, phía Bắc nước Do thái, đã có bang giao với nước Do thái ngay từ thời vua Đa-vít và Sa-lo-mon (x. 1 V 9,11-12). Khi Đức Giêsu ra giảng đạo, một số người từ vùng Tia cũng đã tìm đến gặp Người (x. Mc 3,8).

- Qua ngả Xi-đon: Thành Xi-đon nằm bên bờ Địa Trung Hải giữa Tia và Bây-rút. Thời xưa thành này là thủ đô của dân Xi-đon và đã bị các ngôn sứ lên án (x. Ed 32,30). Thời Tân Ước, Đức Giê-su tỏ ra khoan dung với các thành thuộc dân ngoại này (x. Mt 11,21-22).

- Đến biển hồ Galilê: Còn được gọi là Giê-nê-sa-rét hay Ti-bê-ri-át. Đây là biển hồ hình quả trám, có chiều dài 21 cây số và chiều ngang 12 cây số, mực nước thấp hơn mặt biển Địa Trung Hải, và có chỗ sâu tới 40 mét. Biển hồ này thường có nhiều sóng to gió lớn, và có khá nhiều cá.

- Vào miền Thập Tỉnh (gọi là Đê-ca-bô-lơ): Là vùng đất phía Đông biển hồ Galilê, gồm mười thành chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hy-lạp. Đó là các thành; Sy-thô-pô-li, Pen-la, Ga-da-ra, Đi-on, Híp-pô, Phi-la-đen-phi-a, Ghê-ra-sa, Ka-na-tha, Đa-mát và A-bi-la. Tin mừng Nhất Lãm thường hay nhắc tới miền Thập Tỉnh này (x. Mt 4,25; Mc 1,28; 5,20).

- Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng: Hai thứ bệnh câm và điếc thường đi đôi với nhau. Chính vì điếc không nghe được âm thanh hay lời nói, nên bệnh nhân bị câm không thể nói được, chỉ phát ra một thứ âm thanh vô nghĩa. Người câm điếc thường bị thiệt thòi vì không có khả năng giao tiếp với tha nhân.

- Xin Người đặt tay trên anh: Xin đặt tay là xin chúc lành theo phong tục Do thái (x. St 48,14-15). Đây cũng là cử chỉ Đức Giêsu thường làm như: đặt tay chúc lành cho trẻ em (x. Mc 10,16), đặt tay chữa bệnh (x. Mc 6,5; 8,25).

- Người kéo riêng anh ta ra giữa đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: " Ep-pha-ta", nghĩa là: "Hãy mở ra!" Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng (Mc 7, 33-35):

- Kéo riêng ra khỏi đám đông: Cũng như khi chữa con gái ông Gia-ia mới chết được sống lại (x. Mc 5,37), hoặc khi chữa một người mù thành Bét-sai-đa (x. Mc 8,23). Ở đây, Người tách riêng kẻ bị căm điếc ra khỏi đám đông. Điều này chứng tỏ sự tế nhị và cảm thông đối với sự ngượng ngùng của bệnh nhân, khi anh ta phải ra đứng trước đám đông đang muốn nhìn xem Đức Giêsu chữa bệnh. Đàng khác, việc can thiệp của Thiên Chúa được thực hiện cách kín đáo như Samuen được Đức Chúa sai đến nhà ông Gie-sê ở Bêlem để bí mật xức dầu phong một người con ông này làm vua, thay thế vua Sa-un (x. 1 Sm 16,1-13); Ông Giê-hu cũng được xức dầu phong vương cách kín đáo như vậy (x.2 v 9,2-6).

- Đặt ngón tay vào lỗ tai anh, nhổ nước miếng bôi vào lưỡi anh... Đức Giêsu làm hai động tác để chữa bệnh: Một là "đặt ngón tay vào tai và lấy nước miếng bôi vào lưỡi anh" (c.33); Hai là "ngước mắt lên trời" cầu nguyện, rên một tiếng (thở dài) và nói; "Ep-pha-tha" nghĩa là "Hãy mở ra!" (c.34). Hai động tác này lập tức phát sinh công hiệu là làm cho tai người điếc mở ra để nghe được, lưỡi bệnh nhân được tháo cởi và nói được rõ ràng. Qua phép lạ chữa lành người câm điếc, cũng như chữa người mù (x. Mc 8,22-26), Máccô muốn chứng minh Đức Giêsu chính là Đấng Thiên Sai. Vì Người đã thực hiện dấu chỉ của thời Thiên Sai đã được I-sai-a tiên báo như sau: "Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò..." (Is 35,5-6).

- Đức Giêsu truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc, và nói: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: Ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được" (Mc 7,36-37):

- Không được kể chuyện đó với ai cả...: Khi chữa người câm điếc (x. Mc 7,36), chữa người phong cùi (x. Mc 1,44), phục sinh con gái ông Gia-ia (x. Mc 5,43), chữa lành người mù thành Bết-xai-đa (x. Mc 8,26)...Đức Giêsu đều truyền cho họ phải giữ im lặng. Sở dĩ thế là vì đây là "Bí mật Thiên Sai". Người muốn tránh cho dân Do thái khỏi hiểu lầm về sứ mệnh Thiên sai của Người. Sứ mệnh được Chúa Cha trao phó là lập một Nước Trời thiêng liêng và vĩnh cửu, đang khi dân chúng lại khao khát mong chờ một Đấng Thiên Sai theo kiểu trần tục, để lãnh đạo dân nổi loạn chống lại đế quốc La-mã, đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi. Để thi hành sứ mệnh Thiên sai về thiêng liêng đúng theo Thánh ý Thiên Chúa, Đức Giêsu cần phải có thời gian để rao giảng cho dân Do thái hiểu rõ về vai trò và sứ mệnh của Người. Do đó, khi làm các phép lạ cứu nhân độ thế, Người không muốn có sự ồn ào dễ trở thành động cơ ảnh hưởng trên phong trào Thiên Sai quá khích, làm cớ cho quân Rôma kéo đến đàn áp giết hại, như đã từng xảy ra trước đó.

- Nhưng họ lại càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc và nói: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả": Những người được Đức Giêsu chữa lành đã không giữ kín về những ơn mà họ đã nhận được. Họ thật sự thán phục trước những việc tốt lành mà Đức Giêsu đã làm. Việc chữa bệnh này giống như sự tái tạo một con người mới, con người được giải thoát khỏi ách nô lệ của ma quỷ và tội lỗi ... tương tự việc Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ vạn vật thuở ban đầu đã được Sách Thánh tường thuật như sau: "Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!" (St 1,31).

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA:

1) Người đã liên kết đôi bên, dân Do Thái và dân ngoại thành một. Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét (Ep 2,14):

Câu chuyện: Phá đổ bức tường Bá-linh

Ngày 13.8.1961, một bức tường cao 8 mét, dài 700 cây số đã được cấp tốc xây dựng để làm biên giới, phân chia nước Đức làm hai quốc gia đối nghịch với nhau là Đông Đức và Tây Đức. Bức tường này được gọi là bức tường Bá-linh (Berlin). Từ đây, nhiều gia đình bị phân ly, nhiều ngôi nhà bị chia cắt làm đôi, và tiếp theo đó là sự hình thành một bức tường tâm lý, mang tính thù hận và chia rẽ ngăn cách nhau.

Mãi đến ngày 13.11.1989, sau thời gian tồn tại 28 năm, bức tường Bá-linh này mới bị phá huỷ. Từ đây các gia đình đang phân tán lại được đoàn tụ, dân tộc và đất nước lại tái thống nhất. Thế giới chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh và hai nước Đông và Tây Đức đang thù nghịch nhau lại trở thành đồng minh với nhau, cùng nhau hợp tác xây dựng hoà bình, đưa đất nước này ngày một thăng tiến về mọi mặt

Suy niệm:

+ Phá đổ bức tường câm điếc: Bệnh câm điếc cũng chính là bức tường vô hình ngăn cách kẻ câm điếc với gia đình và xã hội. Vì điếc nên không thể nghe, không thể hiểu và không thể cảm thông với tha nhân. Vì câm nên không thể nói, không thể diễn tả tâm tư nguyện vọng của mình cho người khác hiểu. Vì không hiểu người khác và không được người khác hiểu, thông cảm nên dễ sinh ra hiểu lầm và ngày càng xa cách người khác. Đức Giêsu đã tỏ ra cảm thông với hoàn cảnh của người câm điếc. Người ra tay phá bỏ bức tường ngăn cách là bệnh câm điếc này cho bệnh nhân, khiến anh ta lại có thể nghe được, nói được và cảm thông được với người khác, và ngược lại, người khác cũng dễ dàng nghe và hiểu biết thông cảm với anh.

+ Phá bỏ bức tường ngăn cách giữa dân Do Thái và chư dân: Các đầu mục Do Thái đã xây dựng một bức tường lề luật phức tạp về sự tinh sạch và nhơ uế. Bao nhiêu thứ lề luật nhỏ mọn về việc rửa tay, tắm rửa, những quy định bề ngoài về đồ ăn thức uống làm người ăn trở nên nhơ uế ... làm cho người Do Thái không còn dễ dàng tiếp xúc với chư dân. Những tập tục, quy định này là bức tường ngăn cách ơn cứu độ của Thiên Chúa, làm cho ơn ấy không thể đến được với dân lâng bang. Đức Giêsu đã trải qua một cuộc hành trình dài hơn một trăm cây số, băng qua các thành phố làng mạc của chư dân, để rao giảng Tin Mừng, làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế, đế phá bỏ bức tường ngăn cách giữa dân Do Thái và dân ngoại, để Tin Mừng nước Thiên Chúa được đến với muôn dân

+ Phá bỏ bức tường ngăn cách giữa loài người với Thiên Chúa: Trong vườn địa đàng xưa, ma quỷ đã cám dỗ nguyên tổ Ađam Eva phạm tội bất tuân lệnh truyền của Thiên Chúa, và loài người bị đuổi ra khỏi Địa Đàng, phải vào trần gian là nơi đầy đau khổ chia rẽ thù hận, và đầy gai chông nước mắt. Chính ma quỷ đã xây dựng bức tường tội lỗi chia lìa loài người với Thiên Chúa. Đức Giêsu đã được Chúa Cha sai đến để phá bỏ bức tường ngăn cách bằng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người. Người đã chiến thắng ma quỷ và thần chết nhờ quyền năng Thánh Thần. Người đã chịu chết vì loài người chúng ta và ban ơn cứu độ cho những ai tin vào Danh Người. Ai tin thì sẽ được cứu độ, nghĩa là được trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa, và được sống đời đời trong Nước Thiên Chúa.

Quyết tâm: Hiện giờ tôi có bị ngăn cách với ai bằng bức tường thù hận, thiếu sự cảm thông hay không? Tôi quyết tâm sẽ làm gì để phá bỏ bức tường ngăn cách ấy, để có thể sống vui tươi, cảm thông và hoà hợp với mọi người?

2) Epphatha: "Hãy mở ra" (Mc 7,34):

Câu chuyện: Ông già uyên bác:

Một ông già kia nổi tiếng là người có kiến thức rộng. Tuy trình độ văn hoá của ông mới hết bậc phổ thông, nhưng ông lại có vốn kiến thức hiểu biết sâu rộng về nhiều lãnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa triết lý và thần học ... Tiếng đồn về ông già có kiến thức rộng này ngày càng đi xa và nhiều người đã đến viếng thăm ông để hỏi ý kiến của ông về các thắc mắc và các vấn đề liên quan đến cuộc sống. Họ đã được ông cụ tận tình giải đáp và cho ý kiến. Ngày nọ, một vị giáo sư đại học đã đến thăm ông. Sau buổi đàm đạo lâu giờ, vị giáo sư đã hỏi ông cụ nguyên nhân nào khiến ông có sự hiểu biết rộng rãi và đúng đắn như vậy. Đồng thời xin ông giới thiệu một cuốn sách mà ông đã đọc. Nhưng thật bất ngờ, ông cụ đã trả lời như sau: "Thưa ngài, thực sự tôi không có thời giờ và cũng chẳng có khả năng để đọc các quyển sách cao siêu về khoa học, triết lý hay thần học...Hằng ngày tôi chỉ đọc có 3 cuốn sách mà bất cứ ai cũng có thể đọc được: Cuốn thứ nhất là những công trình lạ lùng kỳ diệu Thiên Chúa đã và đang làm nơi bản thân tôi và chung quanh tôi. Nhờ đó, tôi có dịp dâng những lời ngợi khen ca tụng Người. Cuốn thứ hai là những sự việc đã xảy ra trong cuộc đời tôi. Nhờ đó, tôi có dịp hồi tâm sám hối tội lỗi đã phạm, cảm tạ những ơn lành Chúa ban và cầu xin Người ban cho các ơn lành hồn xác, nhất là ban ơn cứu độ. Cuốn sách thứ ba là Lời Chúa trong Thánh Kinh. Mỗi ngày tôi luôn dành ra một thời gian vào lúc sáng sớm để đọc một đoạn Lời Chúa trong Thánh kinh, rồi suy niệm và cầu xin Chúa giúp thực hành trong đời sống hằng ngày. Mỗi lần dự lễ, tôi luôn để tâm lắng nghe Lời Chúa qua các bài đọc, nhất là bài giảng của vị chủ tế hôm ấy."

Suy niệm:

+ Đúng như ông cụ trong câu chuyện trên đã nói: Thiên Chúa đã làm biết bao việc lạ lùng chung quanh ta mà mọi người đều có thể nhìn xem, lắng nghe và suy nghĩ về những việc kỳ diệu ấy. Nếu chúng ta không hiểu được ý Chúa là do chúng ta đã không chịu mở mắt để nhìn xem, không chịu mở tai ra để lắng nghe, không chịu mở lòng để đón nhận, không chịu mở trí ra để suy nghĩ tìm hiểu Thánh Ý Thiên Chúa...

+ Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chữa một người vừa ngọng (câm) vừa điếc. Người câm ngọng gặp khó khăn khi muốn trình bày hay diễn đạt bằng lời nói cho người khác hiểu ý mình, nhưng họ lại cảm thấy ngại ngùng giống như có một sợi dây vô hình trói buộc, làm cho họ không thể nói ra. Nhiều người đã mất đi sự tự tin, ăn nói ngọng nghịu hay bị câm nín, vì trong quá khứ đã từng bị kẻ khác châm chọc, khinh thường và từ chốu giúp đỡ...cũng có những sự đe dọa buộc người ta phải câm nín, không dám nói lên sự thật theo đúng suy nghĩ trung thực của mình. "Ep-pha-ta", xin Chúa mở miệng chúng ta ra, để ta có thể làm chứng cho chân lý, giới thiệu Chúa cho tha nhân, an ủi những người đau khổ vì tai nạn rủi ro, bị ngược đãi cách bất công, và đang gặp những điều trái ý cực lòng...

+ Người điếc hoặc bị lãng tai là người mất khả năng nghe được lời nói của kẻ khác. Lắng nghe lời người khác là một điều quan trọng trong quan hệ giao tiếp hằng ngày. Chúng ta thường chỉ nghe điều mình muốn nghe, hoặc nghe người khác nói nhưng lại hiểu theo ý mình, thay vì phải hiểu theo ý của người nói. Chính vì thế mà có những sự hiểu lầm và tranh cãi mất đoàn kết. Nghe bằng tai chưa đủ, mà còn phải nghe bằng trái tim nữa. Chỉ trái tim yêu thương mới giúp ta hiểu đúng, hiểu đủ ý nghĩa chứa đựng bên trong lớp vỏ ngôn từ. "Ep-pha-tha", xin Chúa hãy mở đôi tai chúng ta, để có thể lắng nghe, hiểu biết và cảm thông với những đau khổ của tha nhân và kịp thời đáp ứng nhu cầu của họ.

+ Thế giới hôm nay đang thiếu sự cảm thông và đối thoại, vì có quá nhiều người bị câm và điếc tinh thần. Bệnh này biến người ta trở thành những hòn đảo cô độc giữa lòng đại dương bao la. Bệnh này cũng làm cho con người trở thành ích kỷ, khép kín và sơ cứng...:Chẳng có gì để cho ai và cũng không nhận của ai cái gì. Cuối cùng người ta sẽ chết trong sự nghèo nàn tình thương của mình. "Ep-pha-tha", xin Chúa mở tai mở miệng và mở lòng chúng ta, để ta có thể giao lưu với Thiên Chúa và với tha nhân; để chúng ta được ơn Chúa biến đổi trở nên con người mới đầy ấp tình người. Nhờ đó chúng ta sẽ làm cho gia đình, khu xóm và xã hội ta đang sống, trở nên Thiên Đàng chan hòa tình thương, đúng như lòng Chúa mong muốn.

Quyết tâm: Trong những ngày này, tôi quyết tâm sẽ "đi bước trước" đến với tha nhân, nhất là đến với những người cô độc bất hạnh, bằng việc nở một nụ cười thân thiện với họ, bằng những cái bắt tay thân ái. Tôi sẽ năng cầu xin Chúa "Ep-pha-tha", để xin Chúa mở rộng trái tim, mở rộng lòng trí để nghe những Lời Chúa phán dạy, để lắng nghe những tâm sự của tha nhân đang gặp khó khăn đau khổ, và mau mắn đáp ứng nhu cầu của họ với hết khả năng của mình.

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) Lạy Chúa Giêsu. "Ep-pha-tha!", Xin hãy mở rộng tâm hồn con, để con trở nên tay chân của những kẻ tàn tật, trở thành đôi mắt cho những kẻ đui mù. Để con nên tai nghe cho những ai bị điếc, trở thành miệng lưỡi cho những kẻ ngọng câm. Để con trở nên tiếng kêu cho những người bị áp bức. Lạy Chúa, xin giúp con thực thi đức ái trong đời sống thường ngày: Sẳn sàng chia sẻ cơm bánh cho những kẻ đói ăn, đem nước uống cho những kẻ đang khát; Để con đem thuốc men cho những người đau ốm, mang áo lành cho những kẻ rách rưới, mang mền đắp cho những kẻ lạnh run, đem sự che chở cho những kẻ không nhà. Nhất là để con đem tình thương khoan dung tha thứ của Chúa, để làm hòa với những kẻ đang thù ghét làm hại con.

Lạy Chúa Giêsu. Ep-pha-tha! Xin giúp con biết mở rộng trái tim, để thực thi giới răn yêu thương của Chúa: Để con chiếu sáng dẫn đường cho những kẻ đang lạc lối lầm đường, để đốt lửa tin yêu nơi những tâm hồn băng giá, để cảm thông với nỗi khổ đau của những người bất hạnh, để bảo vệ phẩm giá cho những ai đang bị khinh dể chà đạp; để đem lại niềm vui và hy vọng cho những người đang buồn bã thất vọng.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Mẹ Maria, qua bài Tin Mừng hôm nay, con hiểu rằng: người bệnh câm điếc chắc chắn sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn khi giao tiếp với tha nhân: Họ chỉ có thể nói và nghe được bằng các dấu hiệu của bàn tay. Đang khi chúng con, tuy vẫn có khả năng nghe và nói, nhưng lại mắc bệnh câm điếc tinh thần: Đối với Chúa, con chán ngại và không muốn nghe những Lời Chúa nói, và cũng chẳng biết thưa chuyện thế nào với Chúa. Con luôn bị tiền bạc, danh vọng, đam mê và các thú vui khác cám dỗ và chi phối, nên con chẳng dành riêng ra thì giờ để tiếp xúc, chẳng mấy khi con nghĩ đến Chúa. Con chẳng tỏ ra thiết tha với bổn phận phải cầu nguyện và dự lễ đọc kinh. Còn đối với tha nhân, nhiều khi con hóa thành người câm điếc khi con quá ích kỷ, bịt tai ngậm miệng và khép kín cửa lòng, trong khi biết bao người đang cần đến con: cần một nụ cười cảm thông chia sẻ, cần một lời động viên an ủi chân tình, cần một sự trợ giúp cấp thời để giúp họ vượt qua khó khăn trở ngại trên đường đời.

Lạy Mẹ Maria. Xin Mẹ hãy cầu cùng Chúa giúp con được khỏi bệnh câm điếc tinh thần. Xin hãy mở tai con để nghe những Lời dạy của Chúa và lắng nghe những tiếng kêu cứu, những lời tâm sự của anh chị em con. Xin cho con biết noi gương Đức Giêsu người con yêu của Mẹ: Luôn chạnh lòng xót thương, biết quảng đại để chia sẻ cả về tinh thần cũng như vật chất cho những ai đang gặp đau khổ bất hạnh. Xin Mẹ giúp con biết "lặng thinh trước những điều không nên nói, và mạnh dạn lên tiếng trước những điều không được im lặng!"

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

 

21. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux.

MỌI VIỆC CHÚA LÀM ĐỀU TỐT LÀNH

Câu chuyện này bắt đầu kể lại khởi điểm của một chuyến đi kỳ diệu. Chúa Giêsu đang từ Tia đến vùng đất chung quanh biển Galilê, nghĩa là Ngài đang từ Tia ở Phía Bắc đi xuống xứ Galilê ở phía Nam. Ngài bắt đầu hành trình bằng cách đi đến Siđôn. Điều này có nghĩa là Ngài bắt đầu đến Siđôn, và đã bắt đầu chuyển xuống phương Nam bằng cách vòng lên hướng Bắc. Chính vì chỗ khó hiểu này mà nhiều học giả cho rằng bản văn này đã chép sai, đáng lý ra Siđôn chẳng dính dáng gì đến chuyện ở đây, nhưng hầu như chúng ta có thể chắc chắn bản văn đúng như hiện có. Một học giả khác nghĩ rằng chuyến đi này kéo dài không dưới tám tháng, hoặc lâu hơn thế nữa. Có thể chuyến đi dài hạn này là giai đoạn yên tĩnh trước khi bão tố, một thời gian dài để Chúa Giêsu và các môn đệ thông hiệp với nhau trước khi cơn giông bão cuối cùng nổi lên. Ngay trong chương tiếp sau đây, Phêrô đã phát giác được Chúa Giêsu là Đức Kitô (Mc 8,27-29) và có thể chính nhờ chuyến đồng hành lâu dài này với nhiều cơ hội được sống riêng với nhau mà ý tưởng đó dần dần ăn sâu vào lòng trí Phêrô để trở thành chắc chắn. Chúa Giêsu cần có thời gian lâu dài này để sống chung với các môn đệ trước khi sự căng thẳng của ngày kết thúc cuộc bão táp đang tiến đến gần.

Khi Chúa Giêsu trở lại khu vực Galilê, Ngài vào địa phận Đêcapôli, tại đây người ta đem đến cho Ngài một người vừa điếc vừa ngọng, chắc chắn hai khuyết tật đó đi đôi với nhau, chính bệnh điếc đã khiến người ấy không thể nói rõ. Không có phép lạ nào nêu rõ cách Chúa Giêsu đối xử đẹp với con người bằng phép lạ này.

1/ Chúa Giêsu đem người điếc riêng ra khỏi đám đông. Đây là sự quan tâm hết sức dịu dàng. Người điếc luôn luôn ngượng nghịu lúng túng. Theo một vài phương diện thì điếc còn khó chịu hơn đui. Người điếc biết mình không nghe được, nên trong đám đông khi có người tức tối hét vào tai, cố nói cho người ấy nghe, người ấy càng cảm thấy thất vọng hơn. Chúa Giêsu đã tỏ ra sự quan tâm hết sức dịu dàng đối với người ấy, vì biết người ấy đang gặp nhiều khó khăn trong đời sống.

2/ Qua phép lạ này, Chúa Giêsu đã hành động như sắp diễn một vở kịch câm, Ngài đặt tay lên lỗ tai người điếc, thấm nước miếng xức lưỡi anh ta, sau đó Chúa Giêsu ngước mặt lên trời để chứng tỏ rằng chỉ có Thiên Chúa mới giúp được cho loài người, rồi Ngài nói một tiếng và người điếc được chữa lành. Câu chuyện này cho thấy cách hết sức sống động Chúa Giêsu xem người này là một nhân vị có nhu cầu, một vấn đề đặc biệt, và bằng những cử chỉ dịu dàng, quan tâm, Chúa Giêsu giúp người ấy không cảm thấy khó chịu ngỡ ngàng và khiến anh có thể hiểu được.

Sau khi làm phép lạ này, dân chúng đã tuyên bố Ngài làm mọi việc đều tốt lành. Đây là câu kết luận chẳng khác câu kết luận của Đức Chúa Trời liên hệ đến công việc sáng tạo trời đất của Ngài lúc khởi thủy (St 1,31). Khi Chúa Giêsu đến, đem theo ơn chữa lành cho thân thể và cứu rỗi các linh hồn con người. Ngài đã bắt đầu công cuộc sáng tạo một lần nữa. Nguyên thủy, mọi sự đều tốt lành, tội lỗi của nhân loại đã phá hư tất cả, và bây giờ, Chúa Giêsu đem trở lại cho thế gian vẻ đẹp đẽ Thiên Chúa đã ban từ đầu, mà tội lỗi loài người đã làm xấu xa.

 

22. Chú giải của Noel Quesson.

Đức Giê-su lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh.

Việc mô tả những cuộc hành trình (hơn 100 cây số) không phải là ngây ngô đâu? Chúng ta thử đặt mình vào địa vị Đức Giêsu một chút. Sau khi biến bánh ra nhiều (Mc 6,31-44). Sau bài giảng thất bại về "Bánh hằng sống" (Ga 6,66), Đức Giêsu bị đám dân chúng bỏ rơi hoàn toàn. Người rời xứ Galilê và đi ra "nước ngoài" nơi người ngoại đạo ở xứ Phênixi (Mc 7,24-26) bên kia biên giới phía Bắc xứ Palettin. Tia và Xi-đon ngày nay vẫn là hai thành phố lớn của xứ Libăng. Rời xứ này, Đức Giêsu không trở về Galilê, Người đi rẽ về phía Đông Biển Hồ, vượt qua các đồi cao Gôlăng xứ Xyria và đi về phía miền "Thập Tỉnh", bên kia sông Giođan, trong phần đầu của sa mạc từ I-rắc tới I-ran, mà ngày nay có những ống dẫn dầu từ vịnh Ba Tư chạy ngang qua. Đức Giêsu, con người thông minh, đã thích nghi với hoàn cảnh. Người biết rằng, với những đám đông chỉ có mất thời giờ? Vậy từ bây giờ trở đi, Người sẽ lo đào tạo một nhóm môn đệ nhỏ. Và để thực hiện công cuộc đó, cần phải vượt qua ranh giới Do Thái, mới dễ cảm thấy thoải mái hơn.

Chúng ta cố hình dung ra Đức Giêsu, dừng lại ở mỗi đoạn đường, ở ngoài trời, luôn có khoảng hai mười người vây quanh mười hai người nam và vài người nữ để nấu ăn quanh bếp lửa, họ kể lại những biến cố trong ngày.

Ngày nay, những khối Người, trong mọi biên giới, đã trở nên ngoại đạo. Thái độ của Đức Giêsu thật có ý nghĩa. Người làm gì khi Người sống giữa dân ngoại?

Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh.

Danh tiếng Đức Giêsu, con người hay làm phép lạ, đã lan rộng ra ngoài biên giới nước Palettin. Có một người đàn bà gốc Phêmxi, xứ Xirya đã đến mấy ngày trước, để xin Chúa chữa lành cho con gái của bà. Bây giờ lại một người câm điếc. Người ta có thể nói rằng, người ngoại đạo có lòng mở rộng đối với Chúa hơn là người Do Thái. Vậy họ đã có tai để nghe, trong khi những đám đông ở Galilê lại "điếc đối với lời của Người? Người ngoại đạo sẽ được ngồi vào bàn tiệc của Thiên Chúa, để đón nhận Bánh Hằng Sống, trong khi đại đa số dân Israel đã từ chối?

Chúng ta chớ quên rằng, Maccô viết Tin Mừng cho những cộng đoàn Kitô hữu từ' dân ngoại quốc thuộc HyLạp - La Mã trở lại. Ong là thư ký của Phêrô. Chúng ta hiểu tại sao ông lại muốn làm cho nổi bật sự kiện Chúa đã mở rộng sứ vụ của Người cho dân ngoại. Như trong Tin Mừng Chúa nhật trước về vấn đề "Sạch và Nhơ", chúng ta gặp lại ý hướng phổ quát của Đức Giêsu: Người không tự đóng khung trong nền văn hóa riêng biệt của Israel. Người mở rộng cửa: Giáo Hội của Người phải là Công giáo nghĩa là "đa dạng" "mở rộng" "phổ quát". Chúng ta có thực sống như vậy không? Chúng ta không thường giữ những đặc thù thích đề cao chủng tộc của mình sao? Chúng ta không xét đoán quá cứng rắn những người có sở thích văn hóa, những cách cầu nguyện khác chúng ta sao? Trong bàn tiệc chúng ta có những một ít chỗ cho người ngoại quốc không?

Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh.

Đức Giêsu làm những cử chỉ trên là có ý nghĩa, chứ không phải tình cờ. Thiên Chúa nói với chúng ta những cử chỉ đó. Chúng ta cũng điếc chăng? Những chi tiết này nói lên không gì?

Đức Giêsu dẫn người khuyết tật xa khỏi đám đông. Khi làm như vậy, Chúa đã tỏ ra khác hẳn những người làm phép lạ khác, những nhà ảo thuật Hy Lạp, luôn tìm sự phi thường. Còn Đức Giêsu, một "Thiên Chúa ẩn kín" lại trốn tránh những cái nhìn soi mói, bắt đầu sợ những đám đông ham muốn phép lạ. Người lánh ẩn như để nói với chúng ta rằng, Người sắp làm một biến cố siêu việt. Sự tránh hoạt động của Thiên Chúa là mầu nhiệm cuối cùng. Người sẽ cố gắng vô ích để xin "người ta giữ bí mật".

Đức Giêsu làm những cử chỉ trên thân xác, hầu như gây khó chịu đối với những tâm trí chúng ta, được coi là duy linh. Ngày nay người ta có khuynh hướng xóa bỏ hình ảnh này của Đức Giêsu. Chúng ta sẽ nghĩ gì nếu có một phim ghi lại cách tự nhiên và chiếu cho chúng ta xem lại cảnh này một cách thực tế? Người dịch một lần nữa đã nghĩ nên kể lại nhẹ nhàng hơn bản văn Hy Lạp của Maccô, mà nếu dịch từng chữ, sẽ kể như sau: "Đức Giêsu thọc ngón tay mình vào tai người điếc, và sau khi đã nhổ nước miếng, Người sờ vào lưỡi người câm, và sau khi nhìn lên trời, Người thở dài".

Vâng, những bí tích, những dấu chỉ của Đức Giêsu đều là những cử chỉ "thuộc thân xác". Thiên Chúa đã có thể ban hồng ân của Người cho chúng ta "từ xa" một cách thiêng liêng, nhưng thực sự Người đã quyết định "tiếp xúc" với chúng ta nhờ nhân tính Con của Người đã nhập thể. Nếu chúng ta cho là điều xỉ nhục để đưa tay ra "đụng chạm" đến Mình Thánh Đức Giêsu, thì chính là vì chúng ta đã mất ý thức về phẩm giá của "Thân xác", là dụng cụ tuyệt vời để liên lạc và yêu thương. Trong Nhiệm Cục Nhập Thể (Economie de l'incarnation) ân sủng thiêng thánh nhất, vô hình nhất phải qua những cử chỉ tầm thường "cụ thể" là những bí tích của Đức Giêsu. Người câm điếc lúc bấy giờ chắc không bị phân tâm trước những thuyết coi thường thể xác của chúng ta, và anh ta cảm thấy những cử chỉ tiếp xúc đơn giản và tự nhiên của Đức Giêsu như mạc khải sự trìu mến của Người: Ngón tay của Chúa trong lỗ tai bị bịt kín của anh, nước miếng của Người trên lưỡi bị thắt buộc của anh.

Lạy Chúa Giêsu, nhờ Thánh Thể của Chúa, xin chữa lành tâm hồn con người ngày nay. Các giáo phụ đầu tiên của Giáo Hội, đối với giáo dân gần thiên nhiên hơn chúng ta, đã khuyên các Kitô hữu lúc bấy giờ rước lễ dưới hai hình thức, lấy rượu đã truyền phép mà môi miệng họ vừa hiệp thông nơi Chén Thánh, để bôi lên mắt và tai của mình, nhằm thánh hóa những cơ quan này? Bây giờ không cần phải trở lại những tục lệ của các thế kỷ đầu tiên, nhưng ít nhất chúng ta chớ làm nhẹ đi cử chỉ rước Mình Thánh Chúa. Chúng ta hãy nhận "lấy" và "ăn" theo như Chúa đã nói. Điều đó rất thích hợp với bản chất con người của chúng ta, cả về thể xác lẫn linh hồn.

Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói.

Cử chỉ này cho ta thấy rằng, quyền năng của Thiên Chúa sẽ thực hiện không phải là một sự can thiệp y khoa bình thường. Còn về lời than thở của Đức Giêsu không những chỉ hiểu rang đó là xách biểu lộ lòng trắc ẩn đối với người bệnh, mà còn là một chuyển động nơi toàn thân Đức Giêsu đang xúc động mãnh liệt để kêu cầu Thiên Chúa, khi nhận thấy một "nỗ lực", một "nhiệm vụ khó khăn", một đối kháng rất ghê gớm cần phải vượt thắng. Đức Giêsu thực sự đang "làm lại" công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Con nói bị hư hỏng sắp tìm lại được vẻ huy hoàng nguyên thủy của mình.

Ép-pha-tha, nghĩa là: hãy mở ra!

Lời nói của Đức Giêsu được Maccô ghi lại bằng tiếng Hy Lạp, nhưng đúng ra được phát biểu bằng tiếng Aramên, là tiếng nói của Đức Giêsu. Chúng hãy nghĩ rằng, đối với những độc giả của mình không hiểu tiếng mẹ đẻ của Đức Giêsu, Máccô phải dịch nghĩa chữ "Effata"!

Chúng ta cũng lưu ý thêm, Đức Giêsu không nói với những cơ quan bị tật nguyền mà nói với chính người bệnh: "Hãy mở ra" hay đúng hơn "hãy mở trở lại".

Nghi thức Effata này, xưa kia được thực hiện trong khi rửa tội. Vị linh mục sờ vào tai và xức nước miếng mình lên một đứa bé hay người lớn.

Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng.

Khi dùng nghi thức này để rửa tội, Giáo Hội đã sớm hiểu phép lạ này trên bình diện tượng trưng? "Con người có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe". Đui, điếc và câm: Đó là thân phận con người trước mặt Thiên Chúa, Thánh Maccô sẽ lặp lại nhiều lần trong cùng một bối cảnh rằng, chính những môn đệ của Đức Giêsu cũng là những người điếc và câm, những người không hiểu gì (Mc 8,18; 8,52; 7,18).

Qua phép Rửa, chính Đức Giêsu đích thân hành động. Người gặp một người tự nhốt kín mình, không thể thiên lạc được và chữa trị toàn diện: Chúa đã làm cho người này có thể nghe và hiểu Lời Chúa. Chúa cũng ban cho họ quyền thông truyền lời đó cho kẻ khác. Đó là vấn đề Đức tin. Tình trạng tự nhiên lúc vừa sinh ra của chúng ta, đó là sự tự nhốt kín mình, một tình trạng cô đơn cách biệt: Con người bị "bít kín" trước những sự việc của Thiên Chúa. Con người phải được Đức Giêsu "mở ra" để đón nhận mầu nhiệm Nước Trời.

Biết bao Kitô hữu hiện nay vẫn còn "đóng kín", mắc kẹt trong thế giới tập quán, trong sự hiểu biết hạn hẹp những truyền thống nhỏ nhoi của họ. Chúng ta có thuộc vào số những người đi nhà thờ mà không hề biết mở miệng để đáp lại chủ tế hay để hát xướng không? Chúng ta có phải là những người mà trong cuộc sống hàng ngày, không bao giờ dám nói về Thiên Chúa, về Đức Giêsu, về Tin Mừng không?

Đức Giêsu truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc, và nói: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được"

Những lời ca tụng trên nhắc lại trình thuật đầu tiên về cuộc sáng tạo: "Thiên Chúa thấy tất cả những gì Người đã làm đều tốt đẹp" (St 1,30). Nhờ Đức Giêsu, một sáng tạo mới đang xuất hiện, một con người mới được tái tạo... một con người hiệp thông, một người biết lắng nghe và đáp lại. Lắng nghe Thiên Chúa. Nói với Thiên Chúa. Lắng nghe anh em. Nói với anh em.

Lạy Chúa, Chúa là Chủ sự sống, và mọi công trình của Chúa, thật đáng ca ngợi biết bao!

 

23. Chú giải của Fiches Dominicales.

CHỮA NGƯỜI CÂM ĐIẾC TẠI VÙNG ĐẤT DÂN NGOẠI

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Tại vùng đất dân ngoại

Sau khi tranh luận với những người biệt phái và các ký lục về "sạch, và "ô uế", Đức Giêsu vào vùng dân ngoại, một cử chỉ cho thấy lời nói và việc làm của Ngài luôn đi đôi với nhau. Khi đi ngang qua miền Tyrô và Siđôn (hiện nay thuộc Libăng), nhận lời cầu xin của một phụ nữ Syrô-phênêxi, Ngài đã đuổi quỉ ám ra khỏi con gái bà (7, 24-30: Sách bài đọc năm B không trích câu chuyện này). Giờ thì Ngài đã ở trong miền Thập Tỉnh (Đêcapôli): nơi chốn Máccô xác định ở đây có tính cách thần học hơn là địa lý, vì người Do Thái coi miền có mười thành phố này; ở phía Đông sông Giócđanô, như vùng đất ngoại giáo và ngoại quốc. Theo Marcô, câu chuyện đã xảy ra chính tại miền này, và chỉ trong Tin Mừng của ngài mới có: "Người ta đem một ngài vừa điếc vừa câm đến với Đức Giêsu, và xin Ngài đặt tay trên anh".

2. Người câm điếc được chữa lành cách lạ lùng

Lúc chúng ta chờ đợi Đức Giêsu chữa lành người câm điếc bằng một cử chỉ và lời nói đầy quyền năng của Ngài, thì Máccô chúng ta kinh ngạc khi ông thuật lại Đức Giêsu đã chửa lành theo cách các thầy lang ngoại giáo và Do thái thời đó thường làm.

Để tránh những con mắt tò mò, Ngài kéo riêng người câm điếc: "Xa khỏi đám đông". Ngài: "đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh". Chúng ta thấy Đức Giêsu cũng dùng nước miếng để chữa người mù ở Bétsaiđa trong Máccô 8,23 và chữa người mù từ mới sinh trong Ga 9, 6.

J. Potin xác nhận: "Những cách thức chữa bệnh này rất thông dụng trong các đền thờ ngoại giáo và vẫn còn thịnh hành trong các môi trường Kitô giáo" (Đức Giêsu Lịch sử đích thực), Centurion, tr.172). Ở đây phải chăng cũng cần nhắc là trước thời cánh tân phụng vụ, trong lễ nghi rửa tội, có cử chỉ vùa lấy nước miếng xức vào lỗ tai và miệng của đứa trẻ vừa đọc lại lời của Đức Giêsu?

- Ngài ngước mắt lên trời, một cử chỉ cầu nguyện và khẩn nài quen thuộc cho thấy quyền năng của Đức Giêsu từ đâu mà có.

- Ngài rên lên một tiếng. Đây không phải là tiếng kêu cảm thương đối với người bệnh cho bằng một lời mời gọi sức mạnh thần linh đến để chiến thắng quyền n lực sự dữ.

Ngài phán một lời mầu nhiệm mà Máccô đã có ý thuật lại bằng tiếng Araméen, ngôn ngữ Đức Giêsu dùng, mặc dù ông viết Tin mừng bằng tiếng Hy lạp, đó là 'Eftata', nghĩa là 'hãy mở ra'.

Lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu hiệu lực ngay tức thì: đôi tai của người câm mở ra, lưỡi của anh như được tháo cởi, anh bắt đầu nói rõ ràng; và như trong như người câm trong chuyện khác về phép lạ, việc Chúa chữa lành làm dấy lên sự phấn khởi nơi đám đông chứng kiến phép lạ dù Đức Giêsu đã khuyên họ giữ kín.

3. Dấu chỉ thời đại Đấng Thiên Sai

Lời tung hô Máccô trích dẫn để kết luận câu chuyện cho chúng ta thấy chìa khóa của bài đọc: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được."

Phần thứ nhất của lời tung hô qui chiếu về sách Sáng thế: "Thiên Chúa thấy tất cả những gì Ngài đã làm đều tốt đẹp", (Sáng thế 1,31). Như vậy, nó ám chỉ việc Đức Giêsu chữa lành bệnh tật là những dấu chỉ về sự sáng tạo mới mọi người chờ đợi trong thời buổi cuối cùng.

Phần thứ hai hiển nhiên ám chỉ đến những sấm ngôn của Isaia, nhất là sấm ngôn trong sách bài đọc của Chúa nhật thứ 23 này: "Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra và miệng người câm sẽ reo hô mừng rỡ". Điều này có nghĩa là tất cả những gì các ngôn sứ loan báo đều được hoàn tất nơi Đức Giêsu. Nó cũng chào đón sự mở đầu của thời đại Đấng Thiên Sai.

4. Loan báo sự chữa lành thiêng liêng

Việc Chúa chữa người câm điếc ở miền Thập Tỉnh được kết thúc bằng lời tung hô chào đón những dấu chỉ ơn cứu độ của Thiên Chúa. Nó chuẩn bị cho việc chữa người mù ở Bétsaiđa trong 8,22-26 (sách bài đọc năm B không có). Việc chữa lành này sẽ mở đường cho các môn đệ nhận ra Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai.

Như vậy, theo Máccô, phép lạ này cho chúng ta thấy ý tượng trưng của việc chữa lành thiêng liêng mà các môn đệ Đức Giêsu đang cần. Trong câu chuyện, các môn đệ không được chỉ đích danh. Các ông hình như vắng mặt. Nhưng lời mời gọi đầy rung cảm: "Hãy mở ra" nhằm đến các ông trước tiên vì các ông vẫn còn câm điếc một cách bướng bỉnh trước sứ điệp của Thầy mình. Chính các ông có tai mà vẫn không nghe, nên tai các ông cần phải mở ra để có thể nghe lời Thầy mình và lưỡi các ông cũng cần được tháo cởi để có thể lấy đức tin đáp trả lời mời gọi ấy. Chính các ông có mắt mà không thấy (8,18), nên mắt các ông cần được mở ra và soi sáng để có thể tuyên xưng cùng với lòng tin tưởng: "Thầy là Đấng Thiên Sai" (3,29).

Sau cùng, Máccô có chủ ý để phép lạ này xảy ra trong phần đất dân ngoại và đặt nó trong "đoạn về bánh trường sinh" là đoạn hoàn toàn nói đến việc dân ngoại được mời gọi lãnh nhận ơn cứu độ và được tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể; ông cũng có chủ ý khi đặt trên môi những người ngoại giáo lời tung hô: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được". Là muốn công bố và báo trước lời tuyên xưng đúc tin của các cộng đoàn Kitô hữu đã sinh ra và sẽ sinh ra từ việc truyền giáo cho dân ngoại. Như vậy, những độc giả xuất thân từ ngoại giáo trước kia cũng như ngày nay có thể dễ dàng lắng nghe đoạn Tin Mừng này, đồng hóa mình với người câm điếc được chữa khỏi cũng như với đám đông nhân chứng. Họ cũng được mời gọi "cởi mở đón nhận Lời và Hành động của Đấng Cứu Thế", và "đừng sợ hãi khi phải 'công bố' chúng với thế giới". (Xem J. Hervieux, Tin Mừng Máccô, Centurion, tr.107)

 

BÀI ĐỌC THÊM

1. " Hãy mở ra!"

"Phải chăng Đức Giêsu là người chuyên làm phép lạ để lòe bịp dân chúng, lôi cuốn họ theo mình và làm cho họ sống sảng khoái mê ly trong một thế giới hư ảo?

Khi thuật lại cho chúng ta trình tự chi tiết về việc chữa lành người câm điếc, Máccô, tác giả Tin Mừng, hướng dẫn chúng ta nhìn xa hơn, nhằm giúp hiểu Đức Giêsu cách sâu sắc hơn. Khi chữa người khuyết tật để anh có thể nghe và nói được, Đức Giêsu mạc khải Ngài là ai: hơn hẳn một người có phép thần thông, Ngài chính là Đấng Thiên Sai.

Thực vậy, Isaia đã loan báo điều ấy. Lúc Đấng Thiên Sai đến giải thoát dân Ngài, thì một người mù sẽ mở ra và tai người nghe được". Đối với sự điếc lác, mù tối, câm nín và tê liệt, Ngài là dấu chấm hết. Ngài sẽ tạo nên những con người mới. Và giờ đây nhờ Đức Giêsu, người mù xem thấy, người điếc nghe được, người câm lên tiếng và người tê liệt bước đi. "Mọi sự Ngài làm đều mới lạ... và tất cả những gì Ngài thực hiện đều đáng ca ngợi".

Thời kỳ Đấng Thiên Sai được thể hiện mỗi khi con người đi từ tháp Babel nơi không ai hiểu ai đến Lễ Ngũ Tuần là lúc mọi Người đều nghe và hiểu nhau nói gì, dù rất khác biệt về ngôn ngữ chủng tộc và văn hóa, mỗi khi lời người khác không bị phớt lờ vì giải thích một chiều; mỗi khi lời nói của những người đã từng không thể phát biểu trong những cuộc họp, những đại hội, trước micro và máy quay phim, nay được vang lên khắp nơi, không còn bị cấm đoán nữa; mỗi khi những kẻ xấu không còn dám khẳng định mình làm "việc nhân đạo" bằng cách chiếm đoạt quyền ăn nói của những người "thấp cổ bé miệng" trong xã hội vì sau cùng, ai cũng có quyền lên tiếng; mỗi khi ai nấy đều chăm chú lắng nghe những khát vọng cao đẹp nhất của tâm hồn là những cảm hứng đúng đắn nhất của tinh thần nơi bản thân mình cũng như nơi người khác.

Thời kỳ Đấng Thiên Sai cũng được thể hiện mỗi khi chúng ta tung được bức tường giam hãm mỗi người. Bức tường hình thành bởi tính tình và sự giáo dục đã nhận, hoặc bởi sức ép của tính tình và chính trị; mỗi khi thay đổi được điều kiện làm việc ở xưởng thợ, trong dịch vụ, nơi văn phòng, điều kiện làm việc khiến con người khó hoặc không thể giao tiếp với nhau.

Thời kỳ Đấng Thiên Sai cũng được thể hiện mỗi khi con người cùng nhau tạo lập được thế quân bình chính đáng giữa lời phải nói và sự im lặng để lắng nghe; mỗi khi trong gia đình, trong nhóm, trong các đám đông, mối dây giao tiếp trở thành mối dây hiệp thông; mỗi khi các tín hữu phân định được tiếng Chúa trong những điều con người nói với nhau; mỗi khi những bạn hữu của Đức Giêsu không còn ấp úng trong việc loan báo Tin Mùng và ca ngợi những kỳ công của Thiên Chúa.

2. Kỳ diệu thay những cử chỉ của Đấng Nhập Thể!

"Sự chữa lành hay sự giải thoát Đức Giêsu muốn thực hiện nơi chúng ta đến với chúng ta bằng cách nào? Các giáo phụ trả lời: "Bằng nhân tính thánh thiện của Đức Giêsu". Đúng vậy, Đức Giêsu chữa lành chúng ta bằng Thân Thể Ngài và bằng cách tiếp xúc với thân thể chúng ta! Marcô nhấn mạnh rất nhiều đến khía cạnh này của dấu chỉ: "Ngài đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Ngài ngước mắt lên trời, rên lên một tiếng" toàn bộ hành vi cứu độ của Đức Giêsu Cứu Thế được giải thích qua những cử chỉ thân xác. Chúng ta thường có khuynh hướng xóa bỏ những hình ảnh đầy cảm tính của Đức Giêsu dù chúng "rất người". Nhưng chúng ta sẽ không thể gạt bỏ điều này, đó là Đức Kitô cứu độ chúng ta không phải bằng lời nói mà bằng những cử chỉ biết nói: bữa Tiệc ly, máu đổ ra từ Thập giá, hòn đá được lăn ra khỏi ngôi mộ trống. Chính những cử chỉ cụ thể này đã nói lên điều muốn nói! Kỳ diệu thay những cử chỉ của Đấng Nhập Thể!

Do đó, đương nhiên, các bí tích cũng nằm trong chiều hướng chung của việc Nhập Thể: một mình gặp gỡ Thiên Chúa không qua những cử chỉ cứu độ của Đức Giêsu, là một giấc mơ hão huyền mau qua và sẽ kết thúc mau lẹ bằng việc không còn sống với Thiên Chúa nữa, nhưng là sống theo bản tính tự nhiên: con-người khép-kín-trong-chính-mình, con người điếc, câm, mù trước những thực tại cao cả. Chúng ta chỉ gặp gỡ Thiên Chúa thực sự nhờ đôi tai, cái lưỡi và đôi mắt. Sự gặp gỡ với Đức Giêsu chỉ có sức mạnh biến đổi thực sự nhờ những dấu chỉ bí tích, những dấu chỉ thuộc thân xác và trong Giáo hội là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có thái độ nào đối với những cử chỉ Đức Kitô muốn thực hiện trên chúng ta? Chúng ta sẽ đến gần Đức Giêsu để Ngài biến đổi chúng ta thành con người mới, con người được chữa khỏi câm điếc hay không? Con người từ nay trở đi hoàn toàn rộng mở!

Sưu tầm


Newer news items:
Older news items:

 

TIN - BÀI NỔI BẬT

hanoi.titocovn.com

titocohn_copy

Đền Thánh Phê-rô Lê Tuỳ

Trung Tâm Hành Hương Thánh Phê-rô Lê Tuỳ

Album Hình Ảnh TGP Hà Nội

Video - Audio TGP Hà Nội

VideoTGP